Tín dụng vẫn là kênh cung ứng vốn chủ lực cho nền kinh tế. Tuy nhiên, tốc độ tăng tín dụng đã cao hơn tốc độ tăng huy động vốn, đặt ra bài toán ngày càng lớn đối với khả năng cân đối nguồn vốn của các ngân hàng.

Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, đến cuối tháng 6/2026, dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế đạt khoảng 20,15 triệu tỷ đồng, tăng 8,37% so với cuối năm 2025. Trong khi đó, tổng tiền gửi tại các tổ chức tín dụng đạt khoảng 17,44 triệu tỷ đồng, tăng 5,7%.
Chênh lệch này không phải diễn biến mới. Năm 2025, tín dụng tăng 19,07%, trong khi tiền gửi tăng 15,42%. Năm 2024, hai mức tăng lần lượt là 15,11% và 10,66%.
Áp lực nguồn vốn cũng thể hiện qua tỷ lệ cho vay trên tiền gửi. Tỷ lệ này tăng từ 95,2% cuối năm 2024 lên 112,6% cuối năm 2025 và khoảng 117,6% vào cuối tháng 7/2026.
Khi huy động tiền gửi không theo kịp tốc độ tăng tín dụng, các ngân hàng phải tìm kiếm thêm nguồn vốn, trong đó có thị trường liên ngân hàng. Lãi suất kỳ hạn qua đêm trên thị trường liên ngân hàng từng tăng mạnh vào đầu tháng 2/2026, có thời điểm lên tới 17%/năm, trước khi hạ nhiệt về quanh 6,9%/năm.
Theo ông Phùng Xuân Minh, Chủ tịch HĐQT Phát Thịnh Group và Saigon Ratings, ngành Ngân hàng đang đối mặt với hai thách thức lớn là cân bằng giữa tăng trưởng tín dụng và chất lượng tài sản, đồng thời xử lý chênh lệch kỳ hạn giữa nguồn vốn huy động và cho vay.
Trong những tháng cuối năm, nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh và các động lực tăng trưởng vẫn ở mức cao. Trong khi đó, nhu cầu vốn trung, dài hạn cho hạ tầng, công nghệ, bất động sản và các dự án trọng điểm ngày càng lớn, còn một phần đáng kể nguồn vốn huy động của ngân hàng vẫn có kỳ hạn ngắn. Điều này có thể làm gia tăng áp lực thanh khoản và rủi ro kỳ hạn.
Bên cạnh thị trường liên ngân hàng, các ngân hàng cũng mở rộng các nguồn vốn khác như phát hành trái phiếu và vay hợp vốn quốc tế.
Theo MBS, ngân hàng là nhóm ngành có quy mô phát hành trái phiếu lớn nhất trong 7 tháng đầu năm 2026, với 156.000 tỷ đồng, chiếm 48,5% tổng giá trị phát hành. Kỳ hạn bình quân tăng lên 5,2 năm, trong đó 48% giá trị phát hành có kỳ hạn từ 5-10 năm.
Một số ngân hàng cũng đẩy mạnh huy động vốn quốc tế. HDBank hoàn tất khoản vay xã hội hợp vốn quốc tế trị giá 721 triệu USD vào cuối tháng 6/2026, trong khi VPBank ký khoản vay hợp vốn quốc tế trị giá 1,44 tỷ USD, tương đương khoảng 37.900 tỷ đồng.
Việc đa dạng hóa nguồn vốn giúp ngân hàng có thêm dư địa đáp ứng nhu cầu tín dụng nhưng cũng đi kèm yêu cầu về chi phí vốn, tỷ giá, điều kiện tín dụng và quản trị rủi ro. Vì vậy, bài toán không chỉ là huy động thêm vốn mà còn phải lựa chọn nguồn vốn phù hợp với kỳ hạn và khả năng chịu đựng rủi ro.
Trong bối cảnh nhu cầu vốn tăng, điều hành thanh khoản trở thành một trong những trọng tâm của chính sách tiền tệ. Ngân hàng Nhà nước đã sử dụng các công cụ thị trường mở để điều tiết lượng tiền trong hệ thống.
Tính đến ngày 26/8, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 3.315,31 tỷ đồng ra thị trường qua nghiệp vụ thị trường mở; khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố đạt 191.386,15 tỷ đồng.
Việc điều tiết này giúp giảm áp lực thanh khoản và hạn chế những biến động ngắn hạn trên thị trường tiền tệ. Tuy nhiên, nghiệp vụ thị trường mở chủ yếu giải quyết bài toán thanh khoản trong ngắn hạn. Về nền tảng, nguồn vốn cho hoạt động cho vay vẫn phải đến từ tiền gửi, vốn chủ sở hữu, phát hành giấy tờ có giá và các nguồn vốn trong nước, quốc tế.
Cùng với điều tiết thanh khoản, Ngân hàng Nhà nước cũng điều chỉnh một số quy định nhằm tạo thêm dư địa cho các ngân hàng cân đối nguồn vốn, như nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40%; nâng tỷ lệ khấu trừ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước khi tính tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi lên 50%.
Những thay đổi này giúp các ngân hàng có thêm không gian trong quản trị nguồn vốn, nhưng không đồng nghĩa nguồn vốn thực tế tự động tăng lên. Các ngân hàng vẫn phải chủ động tìm kiếm nguồn tiền phù hợp với quy mô, kỳ hạn và mức độ rủi ro.
Nhưng ngân hàng chỉ là một kênh, không thể là chỗ dựa duy nhất cho mọi nhu cầu vốn của nền kinh tế
Sức ép nguồn vốn hiện nay không chỉ là câu chuyện của từng ngân hàng, mà còn phản ánh vấn đề mang tính cấu trúc của nền kinh tế.
Trong nhiều năm, ngân hàng vẫn là kênh cung ứng vốn chủ yếu cho doanh nghiệp. Điều này giúp dòng vốn nhanh chóng đi vào nền kinh tế, nhưng đồng thời khiến hệ thống ngân hàng phải gánh phần lớn nhu cầu vốn trung, dài hạn.
Trong khi đó, nguồn tiền gửi có giới hạn. Không thể kỳ vọng tiền gửi tăng mãi với tốc độ đủ lớn để đáp ứng mọi nhu cầu tín dụng của nền kinh tế.
Đại biểu Quốc hội Trần Hoàng Ngân, Đoàn TP. Hồ Chí Minh cho rằng chất lượng tín dụng là vấn đề rất quan trọng. Do đó, mở rộng tín dụng phải luôn đi liền với nâng cao chất lượng tín dụng. Đây là yêu cầu bắt buộc để vừa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Theo ông Trần Hoàng Ngân, với những ngân hàng chấp hành tốt các nguyên tắc hoạt động tiền tệ, đáp ứng tiêu chuẩn an toàn, có nợ xấu thấp và quản trị tốt, việc tạo thêm dư địa tăng trưởng tín dụng là cách điều hành linh hoạt, vừa giúp cung ứng thêm vốn cho nền kinh tế, vừa góp phần bảo đảm an toàn hệ thống.
Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng cần gắn với tăng trưởng thực, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao năng suất lao động; đồng thời giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và huy động thêm các nguồn lực xã hội.
Về dài hạn, ngân hàng vẫn là trụ cột của hệ thống tài chính nhưng không thể là kênh duy nhất đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng lớn của nền kinh tế. Phát triển thị trường trái phiếu, thị trường chứng khoán, vốn quốc tế và các hình thức huy động vốn trực tiếp khác vì thế trở thành yêu cầu ngày càng rõ nét.
Giải quyết áp lực nguồn vốn cho hệ thống ngân hàng không chỉ nằm ở việc tăng khả năng huy động của từng ngân hàng hay điều tiết thanh khoản của Ngân hàng Nhà nước. Vấn đề sâu hơn là từng bước thay đổi cấu trúc cung ứng vốn của nền kinh tế, để ngân hàng tiếp tục giữ vai trò chủ lực nhưng không phải gánh toàn bộ nhu cầu vốn cho tăng trưởng.


