Giáo dục trong 'đường băng' tăng trưởng hai con số
|
Sinh viên Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội). Ảnh: NTCC |
Trong bối cảnh đó, lợi thế quốc gia được quyết định bởi khả năng thu hút, phát triển và giữ chân người tài hơn nguồn vốn hay tài nguyên. Việt Nam cần chính sách đột phá và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đủ sức hấp dẫn để thu hút nhân tài.
Quan trọng nhất là môi trường phát triển
Nhiều người cho rằng mức lương cao là yếu tố quyết định thu hút chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài trở về. Nhưng PGS.TS Trần Thành Nam - Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, thu nhập chỉ là một phần của bài toán.
Điều nhà khoa học, chuyên gia công nghệ quan tâm hơn là môi trường làm việc chuyên nghiệp, cơ hội phát triển nghề nghiệp, quyền tự chủ trong nghiên cứu và cơ chế ghi nhận xứng đáng.
Bởi vậy, để thu hút hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao, theo PGS.TS Trần Thành Nam, Việt Nam cần chuyển từ tư duy “chiêu mộ nhân tài” sang “xây dựng hệ sinh thái nhân tài”. Điều đó đòi hỏi các trung tâm nghiên cứu và đổi mới sáng tạo có năng lực cạnh tranh quốc tế, hạ tầng nghiên cứu hiện đại, cơ chế tài chính linh hoạt, chính sách sở hữu trí tuệ minh bạch, môi trường học thuật cởi mở.
Đồng thời, phát triển các mô hình hợp tác linh hoạt để chuyên gia ở nước ngoài có thể tham gia nghiên cứu, giảng dạy, cố vấn hoặc đầu tư từ xa mà không nhất thiết phải trở về làm việc toàn thời gian.
Ở góc độ giảng viên, TS Nguyễn Minh Giám - Khoa Sư phạm, Trường Đại học Thủ Dầu Một (TPHCM) có cùng quan điểm khi cho rằng, nhiều chuyên gia, nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài luôn mong muốn trở về cống hiến; và điều họ cần không đơn thuần thu nhập cao mà là môi trường làm việc có thể phát huy tối đa năng lực.
Vì vậy, yếu tố quan trọng nhất là xây dựng hệ sinh thái nghiên cứu và đổi mới sáng tạo đủ mạnh. Người tài chỉ thực sự gắn bó khi được trao quyền tự chủ học thuật, tiếp cận cơ sở vật chất hiện đại, được tham gia các dự án nghiên cứu có tầm ảnh hưởng và được đánh giá bằng kết quả thực chất. Nếu môi trường làm việc chưa tạo điều kiện để họ sáng tạo và cống hiến, mọi chính sách đãi ngộ đều khó phát huy hiệu quả lâu dài.\
Bên cạnh đó, theo TS Nguyễn Minh Giám, Việt Nam cần mạnh dạn áp dụng các cơ chế đặc thù đối với nhân tài công nghệ và khoa học, từ tuyển dụng, bổ nhiệm, sử dụng đến đãi ngộ. Trong lĩnh vực công nghệ cao, tốc độ phát triển nhanh nên cơ chế quản lý cần linh hoạt hơn để phù hợp với các chuẩn mực quốc tế.
“Quan trọng hơn, chúng ta cần chuyển từ tư duy ‘mời gọi người tài trở về’ sang ‘tạo môi trường để người tài muốn đến, ở lại’. Khi Việt Nam trở thành nơi các nhà khoa học có thể nghiên cứu, khởi nghiệp, chuyển giao công nghệ, tạo ra giá trị cho xã hội, việc thu hút chất xám toàn cầu sẽ không còn là mục tiêu khó đạt”, TS Nguyễn Minh Giám bày tỏ quan điểm.
Đổi mới để đào tạo, giữ chân nhân lực
Thu hút người tài từ bên ngoài là cần thiết, nhưng theo PGS.TS Nguyễn Hoàng Long - Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ Giao thông vận tải, đào tạo và giữ được người giỏi từ bên trong mới là nền tảng lâu dài. Đại học phải chuyển từ truyền đạt kiến thức thành kiến tạo năng lực, cấp bằng sang tạo giá trị, quản lý quá trình sang cam kết đầu ra.
Đặc biệt, trong các ngành công nghệ, chương trình đào tạo không thể chạy sau thị trường lao động 3-5 năm, mà phải đồng hành, thậm chí đi trước nhu cầu của các ngành chiến lược.
Để thực hiện mục tiêu này, PGS.TS Nguyễn Hoàng Long đề xuất đổi mới giáo dục đại học theo mô hình “5 cùng”.
Một là, cùng thiết kế chương trình với doanh nghiệp và cơ quan quản lý. Mỗi chương trình công nghệ cần có hội đồng ngành với ít nhất 30% thành viên từ doanh nghiệp, viện nghiên cứu, đơn vị sử dụng lao động. Chuẩn đầu ra phải được rà soát hằng năm; tối thiểu
20-30% học phần được triển khai qua dự án thực tế, phòng thí nghiệm hoặc bài toán doanh nghiệp. Sinh viên không chỉ học cách vận hành công nghệ hiện có, mà phải học cách phát hiện vấn đề, thiết kế giải pháp, đánh giá tác động xã hội.
Hai là, cùng đào tạo giữa giảng viên, chuyên gia, nhà khoa học quốc tế. Cơ sở giáo dục đại học mở rộng mô hình đồng giảng dạy, đồng hướng dẫn và phòng thí nghiệm liên kết. Một chương trình đào tạo xuất sắc nên phấn đấu có 15-20% học phần bằng tiếng Anh, 20% chuyên đề do chuyên gia doanh nghiệp hoặc quốc tế tham gia, mỗi sinh viên giỏi được gắn với một cố vấn học thuật - nghề nghiệp từ năm hai.
Ba là, cùng nghiên cứu giữa thầy - trò ngay từ đại học. Sinh viên tài năng được vào nhóm nghiên cứu sớm, cấp học bổng, kinh phí thực nghiệm và quyền sử dụng hạ tầng. Mỗi trường nên dành tối thiểu 3-5% nguồn thu thường xuyên cho quỹ nghiên cứu sinh viên, quỹ ý tưởng mạo hiểm và các “đề bài mở”. Không phải dự án nào cũng thành công, nhưng một đại học không chấp nhận thất bại sẽ không thể tạo ra đổi mới sáng tạo.
Bốn là, cùng chia sẻ hạ tầng, dữ liệu. Phòng thí nghiệm đắt tiền không nên là “tài sản đóng” của một khoa hay đơn vị. Cần vận hành theo mô hình nền tảng dùng chung, có lịch truy cập minh bạch, đơn giá dịch vụ rõ ràng và cho phép doanh nghiệp, nhóm nghiên cứu ngoài trường cùng sử dụng.
Năm là, cùng hưởng lợi từ kết quả đổi mới. Giảng viên, sinh viên được chia sẻ lợi ích hợp lý từ bằng sáng chế, chuyển giao công nghệ và doanh nghiệp spin-off. Nhà trường cần có văn phòng sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ đủ chuyên nghiệp để hỗ trợ đánh giá sáng chế, bảo hộ, định giá đến gọi vốn. Khi ý tưởng tốt có con đường đi ra thị trường, người giỏi sẽ nhìn thấy tương lai nghề nghiệp ngay trong trường đại học.
PGS.TS Trần Thành Nam cũng khẳng định: Thu hút nhân tài là giải pháp ngắn - trung hạn, đổi mới giáo dục đại học là giải pháp chiến lược lâu dài. Trường đại học cần chuyển mạnh sang mô hình đào tạo dựa trên năng lực và giải quyết vấn đề thực tiễn. Chương trình đào tạo phải được thiết kế cùng doanh nghiệp, tăng tỷ lệ thực hành, thực tập và tham gia dự án thực tế. Sinh viên được học trong môi trường nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp ngay từ năm đầu.
Quan trọng hơn, trường đại học không chỉ đào tạo mà phải trở thành trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo. Điều này đòi hỏi đầu tư mạnh cho phòng thí nghiệm, nhóm nghiên cứu xuất sắc, trung tâm R&D và các chương trình hợp tác quốc tế. Khi người học nhìn thấy cơ hội phát triển nghề nghiệp, nghiên cứu, khởi nghiệp ngay trong nước, xu hướng dịch chuyển ra nước ngoài sẽ giảm đáng kể.
“Kinh nghiệm quốc tế cho thấy nhân tài không chỉ tìm kiếm việc làm mà cả cơ hội tạo ra giá trị. Vì vậy, bên cạnh đào tạo chất lượng cao, Việt Nam cần xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hoàn chỉnh, bao gồm quỹ đầu tư mạo hiểm, vườn ươm công nghệ, cơ chế thử nghiệm chính sách mới và mạng lưới kết nối đại học - doanh nghiệp - cơ quan quản lý.
Trường đại học cần tăng cường tự chủ học thuật, giảm thủ tục hành chính trong nghiên cứu khoa học, tạo điều kiện để nhà khoa học trẻ được chủ trì đề tài, tiếp cận nguồn lực nghiên cứu, tham gia mạng lưới quốc tế. Đây là yếu tố có tác động lâu dài hơn nhiều so với chính sách đãi ngộ đơn thuần”, PGS.TS Trần Thành Nam cho hay.
“Nghị quyết 57-NQ/TW, Nghị quyết 71-NQ/TW mở ra không gian cải cách có tính lịch sử: Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, giáo dục phải cùng trở thành đường băng cho tăng trưởng nhanh, bền vững. Vấn đề đặt ra không còn là “nên thu hút nhân tài hay không”, mà Việt Nam sẽ thiết kế thể chế, đại học, hệ sinh thái sáng tạo thế nào để nhân tài chọn đến, ở lại, cống hiến”. PGS.TS Nguyễn Hoàng Long


