
Phát biểu tại hội nghị, ông Nguyễn Văn Thân, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam cho biết, đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, vốn tín dụng ngân hàng từ lâu là một trong những nguồn lực quan trọng nhất để duy trì và phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, bước vào giai đoạn phát triển mới, cách tiếp cận đối với vấn đề vốn cũng cần có những thay đổi tương ứng.
Đánh giá cao mối quan hệ gắn bó giữa cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa với Ngân hàng Nhà nước và hệ thống ngân hàng trong nhiều năm qua, ông Nguyễn Văn Thân nhấn mạnh: "Qua các thời kỳ, ngành Ngân hàng đã có sự đồng hành, chia sẻ với những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp. Hiệp hội đồng thời ghi nhận và đánh giá cao sự vào cuộc của NHNN và toàn hệ thống ngân hàng, đặc biệt trong năm 2026".
Cũng theo Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, trong điều hành chính sách tiền tệ, NHNN đã triển khai nhiều giải pháp nhằm ổn định thị trường tiền tệ, tạo điều kiện cho tín dụng tăng trưởng, hướng nguồn vốn vào sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên. Các tổ chức tín dụng cũng triển khai nhiều chương trình, sản phẩm tín dụng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa và hộ kinh doanh.
Tuy nhiên, hoạt động của cộng đồng doanh nghiệp, nhu cầu vốn ngày càng đa dạng trong khi phương thức cung ứng vốn hiện vẫn chủ yếu dựa vào hệ thống ngân hàng thương mại và các yêu cầu về tài sản bảo đảm truyền thống. Từ thực tế này, ông Nguyễn Văn Thân đưa ra một số khuyến nghị nhằm mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa và hộ kinh doanh trong giai đoạn tới.
Đầu tiên, nghiên cứu thí điểm mô hình ngân hàng số chuyên biệt cho doanh nghiệp nhỏ và vừa và hộ kinh doanh. Theo ông Thân, đây có thể là một hướng đi mới nhằm giải quyết một phần những hạn chế đang tồn tại trong tiếp cận tín dụng. Bởi lẽ, doanh nghiệp nhỏ và vừa và hộ kinh doanh có số lượng rất lớn, nhu cầu vốn đa dạng nhưng quy mô từng khoản vay nhìn chung không quá lớn. Nếu áp dụng hoàn toàn mô hình ngân hàng truyền thống với chi phí thẩm định, quản lý và phục vụ tương đối cao, chi phí cung ứng tín dụng cho nhóm khách hàng này có thể tiếp tục là một trở ngại.
"Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam sẵn sàng phối hợp với NHNN trong việc nghiên cứu mô hình, xây dựng cơ chế thí điểm và chương trình triển khai phù hợp, đồng thời bảo đảm các yêu cầu về quản lý rủi ro và an toàn hệ thống", ông Nguyễn Văn Thân bày tỏ.
Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam cũng kiến nghị, NHNN thúc đẩy mạnh hơn hoạt động bao thanh toán, đặc biệt là bao thanh toán miễn truy đòi theo hướng tiếp cận thông lệ và chuẩn mực quốc tế của FCI. Đây được đánh giá là phương thức phù hợp với doanh nghiệp nhỏ và vừa, bởi doanh nghiệp có thể chuyển hóa các khoản phải thu từ những khách hàng có uy tín thành vốn lưu động mà không nhất thiết phải sử dụng bất động sản hoặc tài sản cố định làm tài sản bảo đảm.
Bên cạnh đó, Hiệp hội đề nghị nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế liên quan tới vai trò của đại lý bao thanh toán nước ngoài, bảo hiểm khoản phải thu và các công cụ bảo đảm rủi ro phù hợp thông lệ quốc tế.
Một nội dung khác cũng được đề xuất là xây dựng hệ thống kết nối chung, cho phép các chủ thể trên thị trường chia sẻ, đối chiếu và kiểm tra những thông tin cần thiết trong phạm vi pháp luật cho phép. Hệ thống này sẽ hỗ trợ quản lý rủi ro, hạn chế tình trạng một khoản phải thu được sử dụng để tài trợ nhiều lần cũng như những rủi ro chưa được nhận diện đầy đủ.
"Nếu được phát triển bài bản, thị trường bao thanh toán có thể trở thành một kênh cung ứng vốn quan trọng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa và hộ kinh doanh, nhất là những doanh nghiệp đã có đơn hàng, hợp đồng và các khoản phải thu nhưng lại thiếu tài sản thế chấp", ông Nguyễn Văn Thân nhấn mạnh.
Cùng với các giải pháp trên, đại diện Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam cũng kiến nghị từng bước hình thành một hệ sinh thái đánh giá tín nhiệm doanh nghiệp độc lập, khách quan và dựa trên dữ liệu. Theo đó, cần khuyến khích các tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập cung cấp dịch vụ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Theo ông Nguyễn Văn Thân, hiện nay, các tổ chức tín dụng sử dụng dữ liệu của Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam (CIC) như một nguồn thông tin quan trọng trong quá trình đánh giá khách hàng. Tuy nhiên, nếu có thêm các tổ chức độc lập thực hiện thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu theo đúng quy định pháp luật, ngân hàng sẽ có thêm nguồn thông tin để đánh giá tín nhiệm, mức độ rủi ro và khả năng trả nợ của khách hàng. Việc mở rộng nguồn dữ liệu đánh giá doanh nghiệp cũng được kỳ vọng sẽ góp phần tạo điều kiện để các doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh tốt, dòng tiền ổn định nhưng thiếu tài sản thế chấp có thêm cơ hội tiếp cận nguồn vốn.
Ngoài ra, Hiệp hội cũng đề nghị, NHNN phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các cơ quan liên quan nghiên cứu cơ chế phối hợp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đây là vấn đề có ý nghĩa chiến lược và có liên quan tới nhiều nội dung chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đang được nghiên cứu hoàn thiện.
Chủ tịch Hiệp hội cho biết Hiệp hội đã có những đề xuất liên quan đến chính sách thuế cũng như cơ chế để doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia các gói thầu đầu tư công. Trong đó, nội dung dành tỷ lệ 20% cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong các gói thầu đầu tư công đang được cơ quan soạn thảo nghiên cứu để trình Quốc hội trong thời gian tới.
Nếu kết nối hiệu quả chính sách của các bộ, ngành với các giải pháp tài chính của ngân hàng và các tổ chức tài chính chuyên biệt, Việt Nam có thể hình thành một hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia chuỗi cung ứng một cách thực chất hơn.
Bên cạnh những kiến nghị đối với cơ quan quản lý và hệ thống tài chính, Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam cũng xác định trách nhiệm của chính cộng đồng doanh nghiệp trong việc nâng cao khả năng tiếp cận vốn. Để những nỗ lực của NHNN, các bộ ngành và các TCTD đạt hiệu quả trong thực tế, ông Nguyễn Văn Thân cho biết: "Bản thân doanh nghiệp cũng phải thay đổi. Hiệp hội sẽ tiếp tục vận động doanh nghiệp nâng cao tính minh bạch, năng lực quản trị, chất lượng số liệu tài chính và trách nhiệm trong sử dụng vốn".


