• :
  • :
Chi tiết tin tức
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Chương trình tín dụng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên: Thêm lực đẩy cho mục tiêu tăng trưởng hai con số

Chương trình tín dụng mới được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam yêu cầu triển khai từ tháng 8/2026, với lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức bình quân cùng kỳ hạn của chính ngân hàng, đang mở thêm một “đường cao tốc” để vốn ngân hàng đi vào khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) và những động lực tăng trưởng mới.

Điểm tựa mới từ sự chủ động, linh hoạt của ngành Ngân hàng

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số đặt ra một yêu cầu khác về chất lượng tín dụng. Không thể chỉ nhìn vào tốc độ tăng dư nợ mà phải nhìn vào khả năng biến một đồng vốn tín dụng thành bao nhiêu đồng giá trị gia tăng, doanh thu, việc làm và năng lực sản xuất mới.

Theo Báo cáo thống kê từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đến ngày 31/7/2026, dư nợ toàn nền kinh tế đạt gần 20,3 triệu tỷ đồng, tăng 8,98% so với cuối năm 2025. Dư nợ đối với doanh nghiệp đạt gần 11 triệu tỷ đồng, chiếm 53,3% tổng dư nợ; trong đó dư nợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trên 3,9 triệu tỷ đồng.

Những con số này cho thấy tín dụng doanh nghiệp đã có quy mô rất lớn. Nhưng quy mô chưa đồng nghĩa với khả năng tiếp cận đồng đều.

Theo thống kê từ ngành chức năng, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) hiện chiếm hơn 97% tổng số doanh nghiệp, đóng góp khoảng 45% GDP và tạo ra hơn 50% việc làm. Trong khi đó, tài liệu cho thấy tín dụng dành cho nhóm này mới chiếm khoảng 18-20% tổng dư nợ toàn hệ thống.

Nguyên nhân dẫn đến dư nợ của nhóm doanh nghiệp này còn thấp là do vẫn còn tồn tại một 'khoảng cách tín dụng' do điều kiện vay vốn. Thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp thiếu tài sản bảo đảm, vốn chủ sở hữu mỏng, báo cáo tài chính chưa đủ minh bạch, dòng tiền biến động và chưa có lịch sử tín dụng đủ dài... nên việc tiếp cận vốn ngân hàng sẽ khó khăn hơn.

agribank.jpg
Ảnh minh họa

Trong bối cảnh đó, để hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn với chi phí thấp từ ngân hàng, ngày 7/8/2026, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành văn bản số7125/NHNN-TD về việc triển khai Chương trình tín dụng hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế và DNNVV.

Ngay sau khi văn bản được ban hành, 4 ngân hàng thương mại nhà nước (Agribank, BIDV, Vietcombank, VietinBank) đã công bố các gói tín dụng ưu đãi, với tổng quy mô 220.000 tỷ đồng, dành cho các động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế và các DNNVV, với lãi suất thấp hơn từ 1-2% so với mặt bằng chung, đồng thời thực hiện miễn, giảm các loại phí dịch vụ phù hợp quy định và năng lực. Chương trình này được các ngân hàng áp dụng từ tháng 8/2026 và kéo dài đến hết năm 2028.

Đáng chú ý, chính sách không đóng khung DNNVV trong một vài ngành truyền thống. Đối tượng được hướng tới bao gồm DNNVV; doanh nghiệp, cá nhân sản xuất kinh doanh thuộc các lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng như nông nghiệp - nông thôn, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao, xuất khẩu, kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, công nghiệp bán dẫn, chế biến - chế tạo và các dự án thuộc Danh mục phân loại xanh, đây là điểm có ý nghĩa chiến lược.

Bởi nếu tăng trưởng hai con số là mục tiêu, tín dụng không thể tiếp tục phân bổ chủ yếu theo “quy mô tài sản” của người vay. Vốn phải tìm đến những nơi tạo ra năng suất mới, công nghệ mới, sản phẩm mới và thị trường mới.

Nhưng không đánh đổi an toàn hệ thống lấy tăng trưởng dư nợ

Dù kỳ vọng dòng vốn được khơi thông mạnh mẽ, một nguyên tắc cốt lõi không thể tách rời là công tác thẩm định, phân loại nợ, trích lập dự phòng và xử lý rủi ro vẫn phải tuân thủ nghiêm ngặt theo quy định hiện hành.

Bởi lẽ, muốn đồng hành cùng DNNVV, ngân hàng không thể đánh đổi sự an toàn của toàn hệ thống. Nếu chỉ đặt mục tiêu tăng dư nợ, mà không cải thiện cơ chế đánh giá rủi ro, ngân hàng có thể rơi vào thế khó hoặc siết chuẩn để bảo vệ chất lượng tài sản, hoặc nới chuẩn và đối mặt nguy cơ nợ xấu.

Để giải bài toán này, điều thị trường cần là một cơ chế chia sẻ rủi ro đủ thực chất giữa Nhà nước, ngân hàng và các quỹ bảo lãnh. Mô hình đồng chia sẻ rủi ro, trong đó quỹ bảo lãnh có thể đảm nhận từ 50-70%, ngân hàng 30-50% tùy cấu trúc khoản vay. Đây có thể là mắt xích quan trọng giúp hiện thực hóa các chủ trương hỗ trợ thành dòng tiền thực đi vào sản xuất.

ThS. Trần Phan Bửu Tùng, Phó trưởng phòng Quản lý rủi ro BIDV Chi nhánh An Giang cho rằng, muốn hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số thì việc giảm chi phí tiếp cận vốn là bắt buộc. Tuy nhiên, rào cản lớn nhất của các DNNVV hiện nay không hẳn nằm ở mức lãi suất, mà ở điều kiệntiếp cận vốn. Nếu doanh nghiệp vẫn phải loay hoay với hồ sơ phức tạp, thiếu tài sản bảo đảm hay không thể chứng minh dòng tiền, thì dù lãi suất có giảm thêm 1%/năm, khả năng tiếp cận tín dụng vẫn chưa được cải thiện căn bản.

Để hóa giải điểm nghẽn này, ThS. Trần Phan Bửu Tùng đưa ra 3 giải pháp: Một là, số hóa dữ liệu và chấm điểm tín dụng dựa trên dòng tiền thực; hai là, xây dựng cơ chế bảo lãnh, chia sẻ rủi ro để ngân hàng mạnh dạn cho vay DNNVV; ba là, phát triển các kênh vốn bổ sung như tài trợ chuỗi cung ứng, cho thuê tài chính, quỹ đầu tư và thị trường vốn.

"Điều quan trọng nhất là không nên biến chương trình thành cuộc chạy đua tăng dư nợ. Một đồng vốn đến đúng doanh nghiệp, đúng dự án và tạo ra năng lực sản xuất mới có giá trị hơn nhiều đồng vốn chỉ làm tăng quy mô tín dụng”, ThS. Trần Phan Bửu Tùng chia sẻ

Những chương trình tín dụng trước đây đã cho thấy khả năng dẫn vốn theo mục tiêu. Đến cuối tháng 6/2026, chương trình tín dụng đối với lĩnh vực nông, lâm, thủy sản có doanh số giải ngân lũy kế khoảng 225.577 tỷ đồng, đạt 122% quy mô chương trình, với hơn 83.000 lượt khách hàng được giải ngân. Chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ lúa gạo chất lượng cao, phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long cũng đạt khoảng 4.400 tỷ đồng.

Những kết quả này cho thấy, khi tín dụng được thiết kế theo đúng chuỗi giá trị và đúng nhu cầu thực tế, vốn ngân hàng có thể trở thành lực kéo mạnh cho tăng trưởng.

Chương trình mới dành cho DNNVV và các động lực tăng trưởng vì thế cần được nhìn rộng hơn một gói tín dụng ưu đãi. Đó là phép thử đối với khả năng chuyển hóa chính sách tiền tệ thành năng lực sản xuất thực tế.

Nếu tháo được nút thắt tài sản bảo đảm, số hóa được thẩm định, chia sẻ được rủi ro và minh bạch được giá vốn, hàng trăm nghìn DNNVV sẽ có thêm cơ hội mở rộng đầu tư, tham gia chuỗi cung ứng, chuyển đổi công nghệ và tiến sâu hơn vào thị trường quốc tế. Khi ấy, tín dụng không chỉ “đi theo” tăng trưởng, tín dụng sẽ trở thành một trong những lực đẩy tạo ra tăng trưởng. Và đó mới là ý nghĩa sâu nhất của chương trình tín dụng mới trong hành trình hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số.

Thích