Với chủ đề “Thúc đẩy phát triển kinh tế số trong kỷ nguyên mới”, tại Hội thảo Khoa học quốc gia: Kinh tế Việt Nam năm 2025 và triển vọng năm 2026 do Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU) phối hợp cùng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương; Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội tổ chức, các chuyên gia cho rằng với tăng trưởng GDP 8,02%, kinh tế Việt Nam năm 2025 đã tăng trưởng mạnh mẽ, thuộc nhóm dẫn đầu thế giới trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều bất ổn. Quy mô nền kinh tế đạt khoảng 514 tỷ USD, đưa Việt Nam lên vị trí thứ 33 toàn cầu, trong khi GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.026 USD, tiếp tục thu hẹp khoảng cách với một số quốc gia trong khu vực. Động lực tăng trưởng được củng cố qua các quý, với xu hướng tăng dần, phản ảnh sự phục hồi đồng đều của các khu vực kinh tế, đặc biệt là công nghiệp - xây dựng và dịch vụ.
Phân tích sâu hơn về chất lượng tăng trưởng GDP năm 2025, chuyên gia NEU- GS,TS. Tô Trung Thành, cho rằng mặc dù tăng trưởng cao, chất lượng tăng trưởng vẫn bộc lộ những hạn chế mang tính cấu trúc.
Mô hình tăng trưởng tiếp tục phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng, với tăng trưởng tín dụng năm 2025 lên tới 19,01%, cao nhất trong nhiều năm, tỷ trọng của kênh tín dụng chiếm trên 50% tổng vốn huy động của toàn nền kinh tế.
“Sự phụ thuộc này phản ánh sự thiếu phát triển của thị trường vốn, đồng thời làm gia tăng rủi ro hệ thống tài chính. Các rủi ro chính bao gồm mất cân đối kỳ hạn giữa huy động và cho vay, gia tăng nợ xấu tiềm ẩn và áp lực lạm phát, tỷ giá cũng như giá tài sản. Điều này cho thấy mô hình tăng trưởng hiện tại vẫn dựa nhiều vào mở rộng quy mô vốn hơn là nâng cao hiệu quả”, chuyên gia phân tích.
Trong khi đó, động lực tăng trưởng theo chiều sâu yếu. Đơn cử, mặc dù năng suất lao động tiếp tục được cải thiện và duy trì tốc độ tăng tương đối cao, với mức tăng bình quân 4,1%/năm giai đoạn 2022 - 2025 – cao hơn nhiều quốc gia trong khu vực, nhưng mức năng suất tuyệt đối vẫn thấp và còn có khoảng cách đáng kể so với các nền kinh tế như Singapore, Malaysia hay Thái Lan.

Đáng chú ý, tăng trưởng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) năm 2025 sụt giảm, đóng góp của TFP chuyển sang mức âm, phản ánh sự suy giảm vai trò của các yếu tố chiều sâu như công nghệ, quản trị và hiệu quả phân bổ nguồn lực.
“Tăng trưởng kinh tế tiếp tục dựa chủ yếu vào tích lũy vốn, đặc biệt là vốn ngoài công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), trong khi đóng góp của vốn ICT và chất lượng lao động còn hạn chế. Điều này cho thấy quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng sang chiều sâu chưa đạt được tiến triển rõ rệt, và vai trò của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo vẫn chưa thực sự trở thành động lực chín”, GS,TS. Tô Trung Thành nhấn mạnh.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng trên 10% trong giai đoạn 2026-2030, lĩnh vực chế biến, chế tạo và sản xuất có vai trò rất quan trọng. Vì vậy, chính sách phát triển kinh tế số cần đi vào những điểm nghẽn căn cốt như thể chế dữ liệu, nhân lực số, liên kết giữa FDI công nghệ cao với doanh nghiệp trong nước, số hóa các ngành truyền thống, nhất là nông nghiệp, logistics, tài chính và sản xuất công nghiệp.
Bên cạnh đó cần đổi mới cách thiết kế và triển khai chính sách hỗ trợ doanh nghiệp. Các chương trình hỗ trợ chuyển đổi số cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hỗ trợ doanh nghiệp vươn ra thị trường quốc tế cần thay đổi cách tiếp cận, gắn với thị trường, hiệp hội, trường đại học và doanh nghiệp, thay vì chỉ triển khai theo cách hành chính từ các bộ, ngành.TS. Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng ban Chính sách Chiến lược TW
Đồng tình với nhận định đó, PGS,TS. Bùi Quang Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam cũng cho rằng tăng trưởng chưa thực sự chất lượng. Ông dẫn chứng cơ cấu chuyển dịch kinh tế rất chậm: Trong 5 năm (2020 - 2025) đóng góp dịch vụ chỉ tăng thêm 1%, tính chung giai đoạn 15 năm (2010- 2025) dịch vụ cùng chỉ tăng thêm 2%.
“Tăng trưởng GDP của chúng ta dựa nhiều vào xuất khẩu, khu vực FDI, gia công lắp ráp là chính. Còn cốt lõi của tăng trưởng là năng suất, rộng hơn là cạnh tranh quốc gia vẫn rất thấp”, PGS,TS. Bùi Quang Tuấn thẳng thắn.
Đề cập đến đóng góp của TFP năm 2025 chuyển sang mức âm, chuyên gia đến từ Hội Khoa học kinh tế Việt Nam nhấn mạnh: “Đây là điều đáng báo động”. Đồng thời lưu ý, bên cạnh mục tiêu tăng trưởng cao, tăng trưởng xanh, tăng trưởng gắn với kinh tế số mới là bền vững, giúp đi dài hơn, xa hơn….
“Dư địa tăng trưởng dựa trên các động lực truyền thống ngày càng thu hẹp, trong khi yêu cầu nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả tăng trưởng ngày càng trở nên cấp thiết. Điều này đòi hỏi nền kinh tế phải khai thác hiệu quả hơn các động lực tăng trưởng mới, bền vững hơn.

Kinh tế số: Chuyển từ “số hóa” sang “tái cấu trúc nền kinh tế”
Theo “Ấn phẩm Đánh giá Kinh tế Việt Nam thường niên 2025” công bố bên lề Hội thảo, năm 2026 là năm mở đầu giai đoạn phát triển 2026-2030, với mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên. Để đạt mục tiêu này, tăng trưởng không thể chỉ dựa vào mở rộng quy mô vốn và lao động, mà phải chuyển mạnh sang dựa trên công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao năng suất.
Báo cáo cho rằng, các chỉ tiêu về kinh tế số, với đóng góp khoảng 14,5% GDP và năng suất lao động tăng khoảng 8,5%, được xác định là yếu tố then chốt để bảo đảm tính bền vững trong trung và dài hạn.
Thực tế, phát triển kinh tế số đã được xác định là trụ cột quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, kinh tế số gắn liền với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây và Internet vạn vật.
Theo PGS,TS. Bùi Huy Nhượng, Giám đốc NEU, kinh tế Việt Nam đang ở một ngưỡng chuyển đổi quan trọng, khi các động lực tăng trưởng cũ dần suy yếu, trong khi các động lực mới chưa phát huy đầy đủ vai trò. Vì thế, phát triển kinh tế số trong kỷ nguyên mới không chỉ là câu chuyện ứng dụng công nghệ hay mở rộng quy mô các ngành số, mà thực chất là vấn đề tái cấu trúc mô hình tăng trưởng.
Ông nhấn mạnh, kinh tế số phải được nhìn nhận như hạ tầng của toàn bộ nền kinh tế, nơi mọi ngành, mọi doanh nghiệp được tái định hình thông qua công nghệ. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy kinh tế số của Việt Nam hiện phát triển nhanh về quy mô nhưng chưa mạnh về chất lượng. Giá trị gia tăng còn thấp, năng lực công nghệ lõi còn hạn chế và hiệu ứng lan tỏa sang các khu vực kinh tế khác chưa rõ nét.
Để kinh tế số thực sự trở thành động lực tăng trưởng, chúng ta còn nhiều việc phải làm. Đó là hoàn thiện thể chế cho kinh tế số; xây dựng cơ chế điều phối chính sách đồng bộ, tránh phân tán; phát triển hạ tầng số, dữ liệu số và các chuẩn kết nối; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; mở rộng năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp; đồng thời tạo dựng một môi trường thử nghiệm, đổi mới và ứng dụng công nghệ an toàn, hiệu quả hơn. Nói cách khác, chuyển đổi số muốn đi vào chiều sâu thì phải được đặt trong một hệ sinh thái phát triển đồng bộ, từ chính sách đến thực thi, từ khu vực công đến khu vực tư, từ nhận thức đến năng lực hành động.
GS,TS. Nguyễn Thành Hiếu, Phó Giám đốc NEU
Đồng tình với nhận định này, GS,TS. Trần Thọ Đạt (NEU) cho rằng không nên coi kinh tế số là một khu vực kinh tế mà nó chính là hạ tầng của nền kinh tế.
Ông đề nghị cần đảo ngược tỷ lệ 60 % kinh tế số lõi, 40% kinh tế số lan tỏa hiện nay để kinh tế số thực sự đem lại hiệu quả cho nền kinh tế. “Dư địa của động lực tăng trưởng đang hạn hẹp, nên chuyển từ tích lũy nguồn lực sang tối ưu hóa nguồn lực, cần có sự phối hợp hợp lý hơn…”, chuyên gia đề nghị.

Theo GS,TS. Tô Trung Thành, không phải “ càng số càng tốt”, kinh tế số chỉ phát huy khi có năng lực hấp thụ tốt, do đó chính sách phát triển kinh tế số cần chuyển từ “số hóa” sang “tái cấu trúc nền kinh tế với 3 trụ cột chiến lược:
Thứ nhất, kinh tế số lõi, đặc biệt là ICT, phải chuyển dịch từ gia công sang làm chủ công nghệ, nâng cấp chất lượng giá trị gia tăng thông qua chiến lược Make in Vietnam, phát triển công nghệ lõi như bán dẫn, thiết bị 5G, 6G và các nền tảng số quốc gia.
Thứ hai, kinh tế số ngành cần được số hóa sâu vào chuỗi giá trị. Các ngành tài chính - ngân hàng, bán lẻ, logistics, nông nghiệp cần chuyển từ ứng dụng công nghệ bề mặt sang tái cấu trúc mô hình vận hành dựa trên dữ liệu và AI. Trong đó, tài chính số và fintech được kỳ vọng đóng vai trò dẫn dắt phân bổ nguồn lực hiệu quả; logistics và bán lẻ nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng; nông nghiệp công nghệ cao góp phần cải thiện năng suất và giá trị xuất khẩu.
Thứ ba, quản trị số phải trở thành nền tảng thể chế cho kinh tế số. Chuyển đổi từ chính quyền điện tử sang chính quyền số dựa trên dữ liệu sẽ giúp giảm chi phí tuân thủ, nâng cao tính minh bạch và hiệu quả phân bổ nguồn lực. Báo cáo nhấn mạnh, dữ liệu cần được coi là tài nguyên chiến lược, với hệ thống kết nối liên thông giữa các bộ, ngành và địa phương.

