Bức tranh kinh tế tỉnh Tây Ninh trong 9 tháng năm 2026 cho thấy những chuyển động tích cực. GRDP tăng 10,3%, vượt kịch bản đề ra; hoạt động xuất, nhập khẩu duy trì đà tăng trưởng, với tổng kim ngạch ước hơn 27 tỷ USD, tăng 17,5% so cùng kỳ. Trong đó, xuất khẩu đạt hơn 15,5 tỷ USD, tăng 19%; nhập khẩu hơn 11,5 tỷ USD, tăng 15,6%. Những con số này phản ánh nhu cầu vốn ngày càng lớn cho sản xuất, thu mua nguyên liệu, đầu tư máy móc, mở rộng thị trường và tổ chức chuỗi cung ứng.
Đến cuối tháng 9/2026, tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn khu vực 13 thống kê đạt 478.600 tỷ đồng, tăng 47.165 tỷ đồng, tương đương 10,93% so với cuối năm 2025. Riêng tỉnh Tây Ninh, nguồn vốn huy động đạt 250.719 tỷ đồng, tăng 12,31%. Tổng dư nợ toàn khu vực 13 đạt 553.133 tỷ đồng, tăng 5,34%; trong đó, Tây Ninh đạt 295.254 tỷ đồng, tăng 13.570 tỷ đồng, tương đương 4,82%, chiếm khoảng 53,6% tổng dư nợ.
Quy mô huy động và cho vay cho thấy hệ thống ngân hàng tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong cung ứng nguồn lực cho nền kinh tế. Tuy nhiên, yêu cầu đặt ra không dừng ở tăng trưởng dư nợ. Điều đáng quan tâm hơn là dòng vốn đang đi vào những lĩnh vực nào, có đáp ứng đúng nhu cầu của doanh nghiệp hay không và tạo ra bao nhiêu giá trị gia tăng cho địa phương.
Cơ cấu tín dụng cho thấy thương mại và dịch vụ đang chiếm tỷ trọng lớn nhất, với dư nợ 343.129 tỷ đồng, tương đương 62,27% tổng dư nợ khu vực 13, tăng 5,08% so với cuối năm 2025. Công nghiệp và xây dựng đạt 101.702 tỷ đồng, chiếm 18,46%, tăng 10,96%. Trong khi đó, dư nợ nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản đạt 106.204 tỷ đồng, chiếm 19,27%, giảm 0,66%.
Đối với tỉnh Tây Ninh, sự phân hóa này đặt ra yêu cầu nhìn nhận tín dụng theo đặc điểm từng ngành. Công nghiệp cần vốn trung và dài hạn cho thiết bị, công nghệ, nhà xưởng và công nghiệp hỗ trợ. Nông nghiệp cần nguồn vốn phù hợp với mùa vụ, chu kỳ chăn nuôi, vùng nguyên liệu và thời gian thu hồi vốn. Doanh nghiệp xuất khẩu lại cần vốn lưu động, tài trợ đơn hàng và giải pháp phòng ngừa rủi ro thanh toán quốc tế.
Một cơ chế tín dụng hiệu quả vì vậy không thể chỉ dựa trên quy mô cho vay, mà phải gắn với đặc thù dòng tiền và khả năng tạo doanh thu của từng mô hình sản xuất, kinh doanh.

Từ tăng trưởng tín dụng đến nâng chất lượng tăng trưởng
Tỉnh Tây Ninh đang sở hữu nền tảng sản xuất đáng kể. Năm 2025, công nghiệp chế biến, chế tạo có 6.256 doanh nghiệp hoạt động, tạo doanh thu khoảng 702.000 tỷ đồng, giá trị gia tăng khoảng 128.000 tỷ đồng và việc làm cho hơn 486.000 lao động. Tuy nhiên, doanh nghiệp FDI vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động công nghiệp và xuất khẩu. Điều này cho thấy dư địa phát triển không chỉ nằm ở thu hút thêm vốn đầu tư, mà còn ở khả năng đưa doanh nghiệp nội địa tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.
Thực tế, tín dụng dành cho 5 lĩnh vực ưu tiên trên toàn khu vực 13 đạt 432.437 tỷ đồng vào cuối tháng 9/2026, tăng 3,76% so với cuối năm 2025, chiếm 78,48% tổng dư nợ. Riêng Tây Ninh, dư nợ nhóm này đạt 236.554 tỷ đồng, tăng 4,64%, chiếm 80,12% tổng dư nợ địa phương.
Trong cơ cấu đó, cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt 40.459 tỷ đồng tại Tây Ninh, tăng 19,71%; cho vay xuất khẩu đạt 13.789 tỷ đồng, tăng 3,49%; cho vay nông nghiệp, nông thôn đạt 175.875 tỷ đồng, tăng 2,84%. Đây là những dòng vốn có ý nghĩa trực tiếp đối với năng lực sản xuất, việc làm và khả năng mở rộng thị trường.
Dù vậy, tín dụng công nghiệp hỗ trợ tại Tây Ninh chỉ đạt 6.432 tỷ đồng, giảm 17,78% so với cuối năm 2025.
Nếu vốn chủ yếu tập trung vào hoạt động kinh doanh hiện hữu mà chưa đủ sức thúc đẩy đổi mới thiết bị, phát triển nhà cung ứng và nâng tỷ lệ nội địa hóa, tác động lan tỏa của tín dụng đối với nền kinh tế sẽ khó đạt kỳ vọng.
Vấn đề cốt lõi là xây dựng được mối liên kết giữa ngân hàng, doanh nghiệp đầu chuỗi, nhà cung ứng nội địa và các đơn vị logistics. Khi có hợp đồng đầu ra rõ ràng, phương án sản xuất khả thi và dòng tiền được kiểm soát, doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ có cơ sở tốt hơn để tiếp cận nguồn vốn. Ngược lại, ngân hàng cũng có thể giảm rủi ro thông qua việc đánh giá chuỗi giao dịch thay vì chỉ dựa vào tài sản bảo đảm.
Đưa vốn đến đúng chuỗi giá trị: Trong nông nghiệp, Tây Ninh có thế mạnh về lúa gạo, mì, cao su, rau quả, chăn nuôi và thủy sản. Chín tháng năm 2026, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,23%, đóng góp 0,54 điểm phần trăm vào tăng trưởng GRDP. Tuy nhiên, dư nợ nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản toàn khu vực giảm 0,66%, cho thấy cần đánh giá kỹ khả năng tiếp cận vốn cũng như nhu cầu vay của từng ngành hàng, thay vì mặc nhiên coi tăng trưởng tín dụng thấp là dấu hiệu thiếu vốn.
Định hướng phù hợp là phát triển các gói tín dụng gắn với chuỗi giá trị, từ sản xuất giống, vật tư, vùng nguyên liệu đến thu mua, bảo quản, chế biến và xuất khẩu. Doanh nghiệp đầu mối, hợp tác xã và nông dân cần được kết nối trong phương án vay vốn có đầu ra tương đối ổn định, tiêu chuẩn chất lượng rõ ràng và cơ chế chia sẻ rủi ro hợp lý.
Với công nghiệp, ưu tiên tín dụng nên hướng vào những dự án có khả năng nâng cao năng suất, tiết kiệm năng lượng, đổi mới công nghệ và phát triển công nghiệp hỗ trợ. Đặc biệt, các doanh nghiệp nội địa cần được hỗ trợ hoàn thiện báo cáo tài chính, phương án kinh doanh, tiêu chuẩn sản phẩm và năng lực quản trị để đáp ứng yêu cầu của cả ngân hàng lẫn doanh nghiệp FDI.
Song song đó, việc phát triển hệ thống logistics, trong đó có định hướng đầu tư các trung tâm logistics và khu vực cửa khẩu, sẽ góp phần giảm chi phí lưu kho, vận chuyển và giao nhận. Khi hạ tầng được cải thiện, vòng quay vốn lưu động có thể nhanh hơn, qua đó giảm áp lực tài chính cho doanh nghiệp.
Về phía ngành ngân hàng, cần tăng cường đối thoại với doanh nghiệp theo ngành hàng, công khai điều kiện tín dụng, đẩy mạnh số hóa quy trình và tư vấn phương án vay phù hợp với dòng tiền thực tế. Các chính sách ưu đãi cũng cần được thiết kế minh bạch, đi kèm tiêu chí hiệu quả và cơ chế giám sát, bảo đảm vốn được sử dụng đúng mục đích.
Khơi thông tín dụng, xét đến cùng, không đơn thuần là mở rộng cánh cửa cho vay. Đó là quá trình tháo gỡ đồng thời những nút thắt về thông tin, tài sản bảo đảm, năng lực quản trị, thị trường đầu ra và hạ tầng sản xuất.
Với nền tảng tăng trưởng kinh tế tích cực, quy mô công nghiệp lớn và lợi thế giao thương liên vùng, Tây Ninh có cơ hội chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào mở rộng sản xuất sang nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng. Khi dòng vốn ngân hàng được định hướng đúng trọng tâm, gắn với năng lực hấp thụ vốn và chiến lược phát triển ngành, tín dụng sẽ không chỉ nuôi dưỡng hoạt động kinh doanh trước mắt mà còn góp phần hình thành hệ sinh thái sản xuất có sức cạnh tranh cao hơn, tạo động lực cho tăng trưởng bền vững trong những năm tới.
TS. Phạm Minh Tú, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực 13 chia sẻ, khơi thông tín dụng phải bắt đầu từ khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp. Muốn tín dụng trở thành động lực phát triển kinh tế tỉnh Tây Ninh, cần chuyển trọng tâm từ câu chuyện ngân hàng có bao nhiêu vốn sang việc doanh nghiệp có đủ năng lực biến vốn thành giá trị hay không.
Trước hết, cần tăng cường kết nối ngân hàng với doanh nghiệp đầu chuỗi, hợp tác xã và nhà cung ứng nội địa để hình thành các phương án tài trợ dựa trên đơn hàng, hợp đồng tiêu thụ và dòng tiền. Cách tiếp cận này đặc biệt có ý nghĩa với doanh nghiệp nhỏ và vừa, vốn thường gặp khó khăn về tài sản bảo đảm nhưng có cơ hội tham gia chuỗi cung ứng nếu đáp ứng được yêu cầu về chất lượng và tiến độ.
Bên cạnh đó, cần ưu tiên dòng vốn cho đổi mới công nghệ, công nghiệp hỗ trợ, chế biến sâu nông sản và logistics. Đây là những lĩnh vực có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa, giúp doanh nghiệp giảm chi phí, nâng tỷ lệ nội địa hóa và giữ lại nhiều giá trị hơn trong tỉnh.
Về dài hạn, hiệu quả tín dụng cần được đánh giá không chỉ bằng tăng trưởng dư nợ mà còn bằng năng suất, việc làm, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh mà nguồn vốn tạo ra. Khi ngân hàng đồng hành cùng doanh nghiệp trên cơ sở minh bạch, quản trị rủi ro và hiệu quả đầu tư, dòng vốn mới thực sự trở thành cầu nối giữa tiềm năng kinh tế và tăng trưởng bền vững.


