• :
  • :
Chi tiết tin tức
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Xuất khẩu nông lâm thủy sản 3 tháng đầu năm 2026 đạt gần 17 tỷ USD

Mặc dù vẫn ghi nhận tốc độ tăng trưởng trong tháng 3 và 3 tháng đầu năm song tốc độ tăng trưởng xuất siêu nông lâm thủy sản đã có dấu hiệu chững lại, nhiều ngành hàng xuất khẩu đang “đuối sức”.

Thông tin tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) diễn ra hôm 1/4, Thứ trưởng Bộ NN&MT Phùng Đức Tiến đánh giá, từ đầu năm đến nay, tình hình “khó khăn dồn dập khó khăn”.

“Mục tiêu năm nay chúng ta phấn đấu kim ngạch xuất khẩu 73 -74 tỷ USD, nhưng tình hình rất phức tạp. Hàng ngày tôi vẫn theo dõi giá xăng dầu như thế nào, bởi điều này ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế, trong đó có nông nghiệp. Mấy hôm nay giá có dịu đi nhưng vẫn phức tạp”- Thứ trưởng chia sẻ.

Báo cáo của Bộ NN&MT cho biết, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản (NLTS) tháng 3/2026 của Việt Nam ước đạt 6,02 tỷ USD, tăng 47,8% so với tháng trước nhưng giảm 1,5% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng kim ngạch xuất khẩu NLTS 3 tháng đầu năm 2026 đạt 16,69 tỷ USD, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản đạt 8,93 tỷ USD, tăng 4,1%; giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi đạt 197,7 triệu USD, tăng 54,3%; giá trị xuất khẩu thủy sản đạt 2,62 tỷ USD, tăng 13,3%; giá trị xuất khẩu lâm sản đạt 4,11 tỷ USD, giảm 2,4%; giá trị xuất khẩu đầu vào sản xuất đạt 834,3 triệu USD, tăng 56,7%; giá trị xuất khẩu muối đạt 3,3 triệu USD, tăng 31,7%.

xk-ca-phe.jpg
Giá trị xuất khẩu cà phê 3 tháng đầu năm tăng 12,6% về khối lượng nhưng.giảm 6,4% về giá trị

Đáng chú ý, trong các mặt hàng xuất khẩu chủ lực, một số mặt hàng đã có dấu hiệu giảm tốc. Nguyên nhân một phần do chi phí xăng dầu, logistics cả trong và ngoài nước tăng đột biến thời gian qua.

Cụ thể, trong tháng 3, xuất khẩu cà phê ước đạt 210 nghìn tấn với giá trị đạt 956,2 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị xuất khẩu cà phê 3 tháng đầu năm 2026 đạt 577,3 nghìn tấn và 2,71 tỷ USD, tăng 12,6% về khối lượng nhưng giảm 6,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Nguyên nhân là do giá cà phê xuất khẩu 3 tháng đầu năm giảm 16,9% so với cùng kỳ năm 2025. Giá trị xuất khẩu cà phê giảm mạnh nhất ở thị trường Philippines với mức giảm 23,9%.

Tiếp theo là chè, mặc dù giá chè xuất khẩu bình quân 3 tháng đầu năm 2026 tăng 6,5% so với cùng kỳ năm 2025, nhưng xuất khẩu đạt 25,2 nghìn tấn và 42,9 triệu USD, giảm 6,3% về khối lượng và giảm 0,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Giá trị xuất khẩu chè giảm mạnh nhất ở thị trường Pakistan với mức giảm 72,9%.

Đáng chú ý, với giá gạo xuất khẩu bình quân 3 tháng đầu năm 2026 giảm 8% so với cùng kỳ năm 2025, xuất khẩu gạo đạt 2,3 triệu tấn và 1,11 tỷ USD, tuy tăng 0,2% về khối lượng nhưng giảm 7,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. 3 tháng đầu năm 2026, thị trường Ghana giảm 34,4%.

Một mặt hàng xuất khẩu chủ lực nữa cũng có xu hướng giảm là hạt điều. 3 tháng đầu năm 2026 xuất khẩu điều đạt 120,9 nghìn tấn và 823,5 triệu USD, giảm 1% về khối lượng và giảm 1,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Giá hạt điều xuất khẩu bình quân 3 giảm 0,8% so với cùng kỳ năm 2025, giá trị xuất khẩu hạt điều giảm mạnh nhất ở thị trường Pháp với mức giảm 27,5%.

Đặc biệt, đối với gỗ và sản phẩm gỗ, 3 tháng đầu năm 2026 xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 3,81 tỷ USD, giảm 3,5% so với cùng kỳ năm 2025. Hoa Kỳ là thị trường tiêu thụ gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam, chiếm thị phần 48,8%, nhưng riêng 2 tháng đầu năm 2026 xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sang thị trường này đã giảm 3,1%. Giảm mạnh nhất là thị trường Hàn Quốc với mức giảm 20,3%.

Xuất khẩu sang thị trường nào đang giảm?

Hiện châu Á là thị trường xuất khẩu lớn nhất của các mặt hàng NLTS chính của Việt Nam với thị phần chiếm 45,1%. 2 thị trường lớn tiếp theo là châu Mỹ và châu Âu với thị phần lần lượt là 20,7% và 16,2%. Thị phần của 2 khu vực châu Phi và châu Đại Dương nhỏ, chiếm lần lượt 2,1% và 1,4%.

So với cùng kỳ năm trước, ước giá trị xuất khẩu NLTS chính của Việt Nam 3 tháng đầu năm 2026 sang khu vực châu Á tăng 15,3%; châu Mỹ giảm 3,4%; châu Âu tăng 4,8%; châu Phi giảm 29%; và châu Đại Dương tăng 20,1%.

Xét theo thị trường chi tiết, Trung Quốc với thị phần 22,1%, Hoa Kỳ với thị phần 18,3% và Nhật Bản với thị phần 7,1%, là 3 thị trường xuất khẩu các mặt hàng NLTS chính lớn nhất của Việt Nam. So với cùng kỳ năm trước, ước giá trị xuất khẩu NLTS của Việt Nam 3 tháng đầu năm 2026 sang thị trường Trung Quốc tăng 37,6%, thị trường Nhật Bản tăng 0,7%, trong khi thị trường Hoa Kỳ giảm 5,2%.

xk-go-17257135801161728590769.jpg
Thặng dư thương mại ngành gỗ đang giảm tốc

Thặng dư thương mại giảm tốc

Ở chiều ngược lại, trong tháng 3/2026, kim ngạch nhập khẩu NLTS của Việt Nam ước đạt 4,46 tỷ USD, tăng 37% so với tháng trước và tăng 6,6% so với cùng kỳ năm trước. Tổng kim ngạch nhập khẩu NLTS 3 tháng đầu năm 2026 đạt 11,91 tỷ USD, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm 2025.

Cán cân thương mại NLTS Việt Nam tháng 3/2026 của Việt Nam ước đạt thặng dư 1,55 tỷ USD, tăng 90,9% so với tháng trước nhưng giảm 19,3% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 3 tháng đầu năm 2026, thặng dư cán cân thương mại NLTS ước đạt 4,78 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước.

Phân tích cán cân thương mại NLTS, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến cho rằng mặc dù xu hướng vẫn tăng song tốc độ tăng qua các tháng đang có xu hướng giảm, đây là vấn đề cần quan tâm.

Xét theo nhóm hàng, lâm sản, thủy sản và nông sản là 3 nhóm hàng có cán cân thương mại 3 tháng đầu năm 2026 ở trạng thái thặng dư. Cụ thể, nhóm lâm sản ước đạt thặng dư 3,32 tỷ USD, giảm 6% so với cùng kỳ năm 2025; nhóm thủy sản thặng dư 1,87 tỷ USD, tăng 20,7%; và nhóm nông sản thặng dư 1,31 tỷ USD, giảm 7,1%.

Trong khi đó, cán cân thương mại 3 nhóm hàng còn lại ở trạng thái thâm hụt: Nhóm đầu vào sản xuất thâm hụt 753,5 triệu USD, giảm 41,7%; sản phẩm chăn nuôi thâm hụt 962,5 triệu USD, tăng 3,9%; và muối thâm hụt 5,7 triệu USD, tăng 2,2 lần.

Xét theo mặt hàng cụ thể, 5 mặt hàng có thặng dư thương mại ước tính 3 tháng đầu năm 2026 cao nhất gồm: Gỗ và sản phẩm gỗ thặng dư 3,03 tỷ USD, giảm 7,5% so với cùng kỳ năm trước; cà phê thặng dư 2,63 tỷ USD, giảm 5,8%; tôm thặng dư 995,3 triệu USD, tăng 32,6%; gạo thặng dư 812,5 triệu USD, tăng 74,4%; hàng rau quả thặng dư 740,1 triệu USD, tăng 32,7%.

5 mặt hàng NLTS có thâm hụt thương mại ước tính 3 tháng đầu năm2026 cao nhất gồm: Ngô thâm hụt 978,4 triệu USD, tăng 92,5% so với cùng kỳ năm trước; Chế phẩm từ sản phẩm trồng trọt thâm hụt 672,2 triệu USD, giảm 5,5%; Bông các loại thâm hụt 668,6 triệu USD, giảm 14,9%; thức ăn gia súc và nguyên liệu thâm hụt 629,2 triệu USD, giảm 29,8%; lúa mì thâm hụt 598,8 triệu USD, tăng 41,4%.

Đẩy mạnh xúc tiến thương mại và đa dạng hóa thị trường

Bộ NN&MT dự báo, xuất khẩu NLTS sẽ gặp khó khăn trong thời gian tới do tác động của cuộc xung đột quân sự tại Trung Đông, làm gia tăng rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí năng lượng và vận tải quốc tế, ảnh hưởng đến tuyến đường xuất khẩu NLTS sang Trung Đông và xuất khẩu sang các thị trường Bắc và Trung Phi, Nam Âu, Trung Âu, Tây Âu, và Bắc Âu.

z7683072494442_07ec5c56f82492ce0064166cefa03a00.jpg
Thứ trưởng Phùng Đức Tiến chủ trì cuộc họp báo. Ảnh: Thanh Thanh

Ông Trần Gia Long, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính (Bộ NN&MT) cho biết, ngay sau khi có chỉ đạo, Bộ đã có báo cáo Chính phủ về các kịch bản ứng phó với tác động của cuộc xung đột Trung Đông.

Trong đó đề xuất giải pháp trước mắt là ổn định nguồn cung và giá phân bón, xăng dầu để duy trì sản xuất, giảm chi phí đầu vào. Triển khai mua dự trữ lúa gạo theo quy định khi giá xuống thấp.

Đồng thời tăng cường cập nhật thông tin về tình hình an ninh hàng hải tại khu vực Vùng Vịnh, Biển Đỏ và kênh đào Suez; đánh giá kịp thời tác động đến chi phí vận tải, bảo hiểm và thời gian giao hàng. Thiết lập cơ chế cảnh báo sớm cho doanh nghiệp về rủi ro vận chuyển và thanh toán.

Bộ cũng đề xuất triển khai các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp có hợp đồng bị đình trệ hoặc chậm thanh toán, bao gồm giãn nợ, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, hỗ trợ lưu kho, bảo quản hàng hóa (đặc biệt đối với thủy sản và rau quả); Tăng cường vai trò của hệ thống Thương vụ Việt Nam tại các nước Trung Đông trong việc kết nối, xử lý tranh chấp thương mại.

Đặc biệt, đẩy mạnh xúc tiến thương mại và đa dạng hóa thị trường. Trong đó, tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại tại các thị trường thay thế tiềm năng như Đông Á, Nam Á, EU, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Tận dụng hiệu quả các FTA đã ký kết để mở rộng thị phần. Hỗ trợ doanh nghiệp tham gia hội chợ, kết nối giao thương trực tuyến và phát triển thương mại điện tử xuyên biên giới.
Cùng với đó, phối hợp với hiệp hội ngành hàng (điều, cà phê, hồ tiêu, thủy sản, lúa gạo, rau quả…) cập nhật tình hình đơn hàng, tồn kho, giá cả và đề xuất giải pháp linh hoạt tháo gỡ khó khăn theo từng ngành.

 
Thích

Tin tiêu điểm