A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

‏“Cú hích” từ các chương trình tín dụng trọng điểm tại tỉnh Đồng Tháp và tỉnh Tây Ninh‏

‏Năm 2026, ngành Ngân hàng Khu vực 13 (gồm hai tỉnh Đồng Tháp và Tây Ninh) đã bắt đầu một guồng quay mới với tâm thế chủ động tích cực, với điểm sáng dư nợ tín dụng tháng 2/2026 tăng 0,31% (tăng 1.630 tỷ đồng) so với cuối năm 2025 (đạt 526.727 tỷ đồng), cho thấy dòng vốn đã bắt đầu “chảy” mạnh trở lại vào các “huyết mạch” sản xuất‏‏.‏

‏“Cú hích” từ chương trình tín dụng ưu tiên

‏Ngành Ngân hàng Khu vực 13 đang triển khai những chương trình mang tính đột phá, nhắm thẳng vào thế mạnh của địa phương.‏‏ ‏‏Đáng chú ý, tín dụng đã được định hướng rõ ràng vào các lĩnh vực chủ lực của từng địa phương. ‏

‏Số liệu thống kê từ Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực 13 đến cuối tháng 2/2026 cho thấy: Tại Đồng Tháp, dư nợ tín dụng toàn tỉnh đạt 242.315 tỷ đồng, giảm 0,45%. Cơ cấu tín dụng tập trung vào lúa gạo, cây ăn trái, hoa kiểng, sen, chăn nuôi, thủy sản; khuyến khích đổi mới công nghệ, phát triển logistics và năng lượng tái tạo. Riêng dư nợ cho các mặt hàng nông sản nổi bật (lúa gạo, thủy sản cây ăn trái và hoa kiểng) của Đồng Tháp đạt 8.811 tỷ đồng, trong đó sầu riêng 4.882 tỷ đồng, hoa kiểng 3.139 tỷ đồng, xoài 773 tỷ đồng.‏

‏Song hành với đó, tín dụng xanh đạt 2.181 tỷ đồng với 1.238 khách hàng còn dư nợ, cho thấy bước chuyển tích cực theo hướng phát triển bền vững. Những con số này phản ánh định hướng điều hành không dàn trải, mà bám sát cơ cấu kinh tế địa phương.‏

‏Dư nợ cho vay lúa gạo và thủy sản tại Đồng Tháp chiếm tới 61,7% tổng dư nợ toàn khu vực (đạt 95.602 tỷ đồng). Đặc biệt, chương trình cho vay liên kết sản xuất lúa gạo chất lượng cao, phát thải thấp tại ĐBSCL đã bước đầu giải ngân, tạo tiền đề cho một nền nông nghiệp xanh bền vững.‏

‏Dư nợ tín dụng xuất khẩu (đạt 14.859 tỷ đồng, tăng 6.569 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 79,2%).

agribank-giai-ngan-von-tin-dung-cho-khach-hang..jpg
Ảnh minh họa

‏Tại tỉnh Tây Ninh Tây, đến cuối tháng 2/2026 dư nợ trên địa bàn tỉnh đạt 284.412 tỷ đồng, tăng 0,97%. Trong đó, tín dụng xuất khẩu ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng (hơn 200% so với cuối năm 2025). Đây chính là “đòn bẩy” để các doanh nghiệp chế biến sâu vươn ra biển lớn.‏

‏Tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt 63.224 tỷ đồng, tăng 9.795 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 18,3% và chiếm 12% tổng dư nợ khu vực. ‏

‏Về an sinh xã hội không bỏ lại ai phía sau, Ngân hàng Chính sách xã hội đang duy trì 16 chương trình tín dụng với dư nợ gần 25.000 tỷ đồng, hỗ trợ hơn 648.000 khách hàng yếu thế.‏

Thúc đẩy kết nối ngân hàng – doanh nghiệp

‏Một trong những điểm sáng tại Ngân hàng Khu vực 13 là cơ chế phối hợp liên ngành và chương trình kết nối ngân hàng – doanh nghiệp giai đoạn 2026-2027. Các kế hoạch phối hợp với Sở Tài chính, Sở Công Thương, Hiệp hội doanh nghiệp hai tỉnh được ban hành ngay từ đầu năm, tạo khung pháp lý rõ ràng cho đối thoại và tháo gỡ khó khăn.‏

‏Đây là cách làm mang tính “đi trước một bước” thay vì chờ doanh nghiệp phản ánh vướng mắc, ngân hàng chủ động tiếp cận, nắm bắt nhu cầu, đồng thời phối hợp chính quyền để xử lý những vấn đề vượt thẩm quyền tín dụng thuần túy.‏

‏NHNN Khu vực 13 cũng đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hiện 100% thủ tục qua dịch vụ công toàn trình, tiếp nhận và xử lý 108 hồ sơ trong tháng 1/2026, trong đó có 31 hồ sơ trực tuyến. Việc số hóa quy trình không chỉ rút ngắn thời gian xử lý mà còn nâng cao tính minh bạch, giảm chi phí giao dịch cho doanh nghiệp.‏

‏Đáng nói hơn, tư duy điều hành đã chuyển từ “quản lý” sang “phục vụ”. Điều này thể hiện qua việc duy trì ổn định hệ thống thanh toán 24/7, đảm bảo an toàn tiền tệ dịp Tết và hỗ trợ cho vay dự trữ hàng hóa thiết yếu theo kế hoạch của UBND tỉnh.‏

‏Một điểm cần nhấn mạnh là Ngân hàng Khu vực 13 kiểm soát rủi ro song hành với mở rộng tín dụng không chạy theo tăng trưởng tín dụng bằng mọi giá. Chỉ đạo tăng cường kiểm soát cấp tín dụng vào lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro được quán triệt rõ ràng.‏

‏Các chương trình tín dụng chuyên biệt vẫn được giám sát chặt chẽ. Cụ thể chương trình cho vay tiêu dùng 5.000 tỷ đồng của Agribank có tỷ lệ nợ xấu chỉ 0,2%. Đồng thời, dư nợ cho vay đóng mới, nâng cấp tàu theo Nghị định 67 còn 52,24 tỷ đồng, được theo dõi thu hồi sát sao. Điều này cho thấy, chính sách tín dụng tại địa phương đã đạt được sự cân bằng tương đối giữa hỗ trợ doanh nghiệp và đảm bảo an toàn hệ thống.‏

Giải pháp để tín dụng thực sự trở thành động lực tăng trưởng

‏Dù kết quả bước đầu tích cực, nhưng để tín dụng thực sự trở thành “đòn bẩy” phát triển kinh tế địa phương, TS. Phạm Minh Tú, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Khu vực cho biết, cần những giải pháp sâu và đồng bộ hơn.‏

‏Thứ nhất‏‏, nâng cao khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp, song hành mở rộng cơ chế bảo lãnh tín dụng cho DNNVV, nhất là các doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị nông sản chủ lực, nhằm giảm phụ thuộc vào tài sản bảo đảm truyền thống.‏

‏Thứ hai‏‏, đẩy mạnh tín dụng chuỗi và tín dụng xanh. Thực tế cho thấy dư nợ cho các mặt hàng nông sản chủ lực đã đạt quy mô đáng kể. Tuy nhiên, cần chuyển từ cho vay từng khâu sang cho vay theo chuỗi giá trị, gắn với hợp đồng tiêu thụ và bảo hiểm rủi ro giá cả. Tín dụng xanh hiện mới ở mức hơn 2.000 tỷ đồng – dư địa còn rất lớn. Cần ưu tiên các dự án tiết kiệm năng lượng, nông nghiệp tuần hoàn, công nghiệp hỗ trợ xanh, phù hợp định hướng phát triển bền vững của địa phương.‏

‏Thứ ba‏‏, giảm chi phí vốn bằng cải thiện cấu trúc nguồn vốn.‏‏ ‏‏Duy trì ổn định và phấn đấu giảm lãi suất huy động để tạo dư địa giảm lãi suất cho vay là yêu cầu xuyên suốt. Điều này đòi hỏi TCTD tiếp tục tiết giảm chi phí, đẩy mạnh chuyển đổi số và tự động hóa quy trình.‏

‏Thứ tư‏‏, nâng cấp chương trình kết nối ngân hàng – doanh nghiệp. Các hội nghị đối thoại cần đi vào chiều sâu, có danh mục vướng mắc cụ thể, thời hạn xử lý rõ ràng và cơ chế giám sát sau đối thoại. Tránh tình trạng “nói nhiều – giải quyết ít”.‏

‏Điều trăn trở nhất hiện nay là “dòng vốn có chảy đúng nơi cần chảy”. Tại Ngân hàng Khu vực 13, những bước đi từ đầu năm 2026 cho thấy hệ thống ngân hàng đã chủ động thích ứng, bám sát chỉ đạo điều hành và thực tiễn địa phương.‏

‏Tín dụng đang được định hướng vào đúng ngành hàng chủ lực, lãi suất được kiểm soát, cải cách hành chính được đẩy mạnh, cơ chế phối hợp liên ngành được thiết lập. Những nền tảng này nếu tiếp tục được củng cố, sẽ tạo ra vòng quay tích cực, doanh nghiệp phục hồi – sản xuất mở rộng – ngân sách tăng – môi trường đầu tư cải thiện – tín dụng an toàn hơn.‏

‏Nói cách khác, tín dụng ngân hàng tại Khu vực 13 đang đứng trước cơ hội trở thành “điểm tựa chiến lược” cho tăng trưởng địa phương. Sự phối hợp đồng bộ giữa ngân hàng – chính quyền – doanh nghiệp để biến dòng vốn thành giá trị gia tăng thực sự.‏

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Tin liên quan