• :
  • :
Chi tiết tin tức
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

‏Khơi thông dòng vốn nông nghiệp trên địa bàn tỉnh An Giang: Từ “số lượng” sang “chất lượng xanh”‏

‏Lĩnh vực sản xuất nông nghiệp tỉnh An Giang đang bước vào giai đoạn phát triển mới khi yêu cầu không còn dừng ở tăng sản lượng, mà chuyển sang nâng cao giá trị gia tăng, giảm phát thải và tăng sức cạnh tranh quốc tế. Vì vậy, chính sách tín dụng cũng cần thay đổi tương ứng.‏

Dòng vốn tiếp tục chảy mạnh vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn‏

‏An Giang là một trong những trung tâm sản xuất lúa gạo, thủy sản lớn nhất vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Với hơn 40% GRDP đến từ khu vực nông nghiệp, nhu cầu vốn phục vụ sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản luôn ở mức cao.‏

‏Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực 15 cho thấy, đến cuối tháng 5/2026, tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn An Giang đạt khoảng ‏‏283.900 tỷ đồng‏‏, tăng ‏‏4,17%‏‏ so với cuối năm 2025. Trong đó, dư nợ dành cho lĩnh vực ‏‏nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản đạt 60.300 tỷ đồng‏‏, tăng ‏‏4,93%‏‏, cao hơn mức tăng trưởng tín dụng chung của toàn địa bàn. ‏

‏Đáng chú ý, dư nợ tín dụng phục vụ ‏‏nông nghiệp, nông thôn‏‏ đạt tới ‏‏162.000 tỷ đồng‏‏, chiếm khoảng ‏‏57% tổng dư nợ toàn tỉnh‏‏, tăng ‏‏4,77%‏‏ so với cuối năm trước. Con số này cho thấy lĩnh vực nông nghiệp vẫn là ưu tiên hàng đầu trong định hướng cấp vốn của các tổ chức tín dụng trên địa bàn. ‏

‏Nếu so sánh với dư nợ dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (38.900 tỷ đồng) hay lĩnh vực xuất khẩu (4.000 tỷ đồng), quy mô tín dụng nông nghiệp - nông thôn lớn gấp nhiều lần, phản ánh vai trò trung tâm của khu vực này trong cơ cấu kinh tế địa phương. ‏

‏Riêng tại Agribank chi nhánh An Giang, dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn năm 2025 đạt ‏‏19.253 tỷ đồng‏‏, chiếm trên ‏‏90% tổng dư nợ‏‏, tiếp tục khẳng định vai trò ngân hàng chủ lực trong đầu tư cho lĩnh vực tam nông. ‏

‏Không chỉ cung ứng vốn cho sản xuất lúa, thủy sản hay chăn nuôi, dòng tín dụng còn góp phần thúc đẩy quá trình tái cơ cấu nông nghiệp, hình thành các mô hình sản xuất quy mô lớn, liên kết chuỗi và nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản địa phương.‏

‏Một trong những chuyển biến đáng chú ý tại An Giang là sự thay đổi tư duy sản xuất của người dân. Nếu trước đây mục tiêu chủ yếu là tăng sản lượng thì hiện nay nhiều hộ dân đã bắt đầu tính toán hiệu quả kinh tế trên từng đơn vị diện tích, từng mắt xích trong chuỗi giá trị.‏

‏Mô hình vườn sinh thái Mê Linh Gia tại xã Thạnh Lộc là ví dụ điển hình. Thay vì chỉ bán trái dâu, chủ vườn đã kết hợp sản xuất hữu cơ với du lịch trải nghiệm, dịch vụ ăn uống và thanh toán số để tạo thêm nguồn thu. Đây là cách tiếp cận mới, phù hợp xu hướng kinh tế tuần hoàn và kinh tế trải nghiệm đang phát triển mạnh tại khu vực nông thôn. ‏

‏Trong lĩnh vực thủy sản, nhiều hộ nuôi cá tra và nuôi tôm đã mở rộng sang cung ứng con giống, vật tư đầu vào, dịch vụ kỹ thuật nhằm gia tăng giá trị và giảm phụ thuộc vào biến động thị trường. Những mô hình này đòi hỏi nguồn vốn lớn hơn nhưng đồng thời cũng tạo ra khả năng sinh lời và chống chịu rủi ro tốt hơn.‏

‏Từ góc độ tài chính, đây chính là xu hướng mà ngành Ngân hàng mong muốn hỗ trợ tín dụng không chỉ phục vụ sản xuất đơn thuần, mà hướng tới phát triển các chuỗi giá trị hoàn chỉnh, nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản An Giang trên thị trường trong nước và quốc tế.

agribank-chao-don-khach-hang.(1).jpg
Ảnh minh họa

Những “nút thắt” cần sớm tháo gỡ

‏Dù dòng vốn dành cho nông nghiệp ngày càng mở rộng, việc tiếp cận tín dụng vẫn chưa thực sự thuận lợi đối với nhiều hộ sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ. ThS. Nguyễn Văn Hoàng, Phó Giám đốc Agribank Chi nhánh An Giang chia sẻ, khó khăn đầu tiên là tính minh bạch tài chính còn hạn chế. Hoạt động mua bán nông sản tại khu vực nông thôn vẫn chủ yếu dựa trên giao dịch trực tiếp, thanh toán tiền mặt và ít sử dụng hóa đơn chứng từ. Điều này khiến nhiều hộ dân gặp khó khi chứng minh dòng tiền và mục đích sử dụng vốn với ngân hàng. ‏

‏Bên cạnh đó, sản xuất nông nghiệp luôn đối mặt với rủi ro thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu và biến động giá cả thị trường. Đây là những yếu tố làm tăng chi phí quản trị rủi ro của các tổ chức tín dụng. ‏

‏Đặc biệt, tín dụng dành cho nông nghiệp công nghệ cao vẫn ở mức rất thấp so với tiềm năng. Đến cuối quý I/2026, dư nợ cho vay doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn chỉ đạt khoảng ‏‏36 tỷ đồng‏‏, giảm ‏‏5,33%‏‏ so với cuối năm 2025. Trên phạm vi toàn ngành Ngân hàng Khu vực 15, dư nợ công nghệ cao chỉ chiếm khoảng ‏‏0,01% tổng dư nợ tín dụng‏‏. ‏

‏Đây là nghịch lý khi An Giang đang triển khai mạnh các chương trình phát triển lúa chất lượng cao, cá tra công nghệ cao và chuyển đổi xanh trong nông nghiệp. Nguyên nhân đến từ thời gian thu hồi vốn dài, tài sản bảo đảm khó định giá, rủi ro thị trường xuất khẩu gia tăng và khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp còn hạn chế. ‏

Hướng dòng vốn vào nông nghiệp xanh và chuỗi giá trị

‏Trong chiến lược phát triển giai đoạn tới, tỉnh An Giang đang đứng trước cơ hội lớn từ Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao phát thải thấp vùng ĐBSCL, cùng các chương trình tín dụng ưu tiên dành cho nông, lâm, thủy sản.‏

‏Hiện ngành Ngân hàng đang triển khai chương trình tín dụng quy mô ‏‏185.000 tỷ đồng‏‏ dành cho lĩnh vực nông, lâm, thủy sản; đồng thời mở rộng cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo chất lượng cao gắn với tăng trưởng xanh. ‏

‏Định hướng mới là chuyển mạnh từ cho vay dựa trên tài sản bảo đảm sang đánh giá dòng tiền, phương án sản xuất kinh doanh và hiệu quả chuỗi liên kết. Điều này sẽ tạo điều kiện để nhiều hộ sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp nông nghiệp tiếp cận vốn dễ dàng hơn.‏

‏Song song đó, việc đẩy mạnh thanh toán số, số hóa hồ sơ tín dụng, áp dụng bảo hiểm nông nghiệp và xây dựng cơ sở dữ liệu ngành hàng sẽ giúp giảm chi phí giao dịch, nâng cao tính minh bạch và giảm rủi ro cho cả ngân hàng lẫn khách hàng.‏

‏Nếu các giải pháp này được triển khai đồng bộ, tín dụng sẽ không chỉ là nguồn vốn sản xuất, mà còn trở thành đòn bẩy thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng nông nghiệp của An Giang theo hướng xanh, hiện đại và bền vững hơn.‏

‏Theo ThS. Nguyễn Văn Hoàng, nông nghiệp An Giang đang bước vào giai đoạn phát triển mới khi yêu cầu không còn dừng ở tăng sản lượng mà chuyển sang nâng cao giá trị gia tăng, giảm phát thải và tăng sức cạnh tranh quốc tế. Vì vậy, chính sách tín dụng cũng cần thay đổi tương ứng.‏

‏Thứ nhất, cần hoàn thiện cơ chế cho vay dựa trên dòng tiền và hợp đồng liên kết thay vì quá phụ thuộc vào tài sản thế chấp. Điều này đặc biệt quan trọng đối với hộ nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ.‏

‏Thứ hai, đẩy nhanh triển khai bảo hiểm nông nghiệp để chia sẻ rủi ro thiên tai, dịch bệnh giữa người sản xuất, doanh nghiệp bảo hiểm và tổ chức tín dụng. Đây là điều kiện quan trọng để mở rộng tín dụng trung và dài hạn.‏

‏Thứ ba, xây dựng cơ sở dữ liệu số về vùng nguyên liệu, sản lượng, lịch sử tín dụng và chuỗi cung ứng nông sản nhằm nâng cao tính minh bạch, giảm chi phí thẩm định.‏

‏Thứ tư, ưu tiên nguồn vốn cho các dự án nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp tuần hoàn, kinh tế xanh, kinh tế carbon thấp và các mô hình tham gia Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao phát thải thấp.‏

‏Thứ năm, tăng cường liên kết “bốn nhà” gồm ngân hàng - doanh nghiệp - hợp tác xã - nông dân để hình thành các chuỗi sản xuất quy mô lớn, tạo đầu ra ổn định và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.‏

‏Trong dài hạn, sự kết hợp giữa tín dụng xanh, chuyển đổi số và liên kết chuỗi giá trị sẽ là chìa khóa giúp An Giang xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, thích ứng biến đổi khí hậu và phát triển bền vững trong thời kỳ mới.‏

 
Thích