
Số doanh nghiệp đóng kinh phí công đoàn còn ít
Theo quy định của pháp luật hiện hành, doanh nghiệp dù có hay không có CĐCS đều phải đóng bằng 2% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc cho người lao động (NLĐ). Nguồn kinh phí công đoàn này được hạch toán vào chi phí hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của doanh nghiệp. Pháp luật quy định như thế nhằm tạo điều kiện, hỗ trợ cho doanh nghiệp đóng kinh phí công đoàn được thuận lợi và nhằm tạo nguồn quỹ để chăm lo cho đoàn viên, người lao động. Thế nhưng, trên thực tế, nhiều doanh nghiệp không thực hiện đúng pháp luật.
LĐLĐ tỉnh Đồng Nai cho biết, trong quá trình thu kinh phí công đoàn còn nhiều đơn vị trây ỳ, LĐLĐ tỉnh đã phải làm văn bản nhắc nhở, phối hợp với công đoàn các khu vực, công đoàn các phường, xã đôn đốc. Chẳng hạn như tại Công ty TNHH D.S Việt Nam, LĐLĐ tỉnh đã phải gửi thông báo tới Ban giám đốc, CĐCS đề nghị quan tâm khẩn trương thực hiện việc đóng 2% kinh phí công đoàn năm 2025.
Thống kê mới nhất, LĐLĐ TPHCM đang quản lý 23.070 CĐCS với hơn 2,4 triệu đoàn viên. Thế nhưng, theo bộ phận tài chính LĐLĐ TPHCM, năm 2025, chỉ có hơn 8.000 doanh nghiệp, đơn vị có CĐCS và hơn 1.000 doanh nghiệp, đơn vị không có CĐCS đóng kinh phí công đoàn.
Như vậy, số doanh nghiệp đóng kinh phí công đoàn còn thấp, gây thiệt thòi cho đoàn viên, NLĐ; gây ảnh hưởng tới hoạt động công đoàn, tính nghiêm minh của pháp luật và sự công bằng giữa các doanh nghiệp.
Tăng cường rà soát, thanh tra, kiểm tra để thu kinh phí công đoàn
Theo quy định hiện hành, việc vi phạm đóng kinh phí công đoàn sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính. Tùy mức vi phạm khác nhau như chậm đóng, đóng không đúng mức quy định hay đóng không đủ số người phải đóng thì mức xử phạt khác nhau, nhưng cao nhất là 75 triệu đồng đối với người sử dụng lao động là cá nhân và 150 triệu đồng đối với người sử dụng lao động là tổ chức (doanh nghiệp - PV).
Mức phạt này tưởng chừng là lớn, nhưng thực tế với doanh nghiệp vi phạm việc đóng kinh phí công đoàn với số tiền hàng tỉ đồng thì mức phạt tối đa 150 triệu đồng chưa tương xứng. Chẳng hạn như Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu Hoàng Sinh (Khu công nghiệp Phú Tân, phường Bình Dương) chậm đóng kinh phí công đoàn suốt hơn 6 năm, từ tháng 1.2018 đến tháng 9.2024 với số tiền 5,6 tỉ đồng. Đến cuối năm 2024, UBND tỉnh Bình Dương (trước đây) đã xử phạt vi phạm hành chính doanh nghiệp này do chậm đóng kinh phí công đoàn mức cao nhất là 150 triệu đồng.
Sau khi bị xử phạt, đến nay, Công ty Hoàng Sinh vẫn chưa đóng đủ kinh phí công đoàn.
Ông Lưu Kim Hồng - Chủ tịch Công đoàn Công ty Nidec Việt Nam - phân tích, việc doanh nghiệp không đóng, đóng không đầy đủ kinh phí công đoàn vừa vi phạm pháp luật, vừa làm mất nguồn lao động, vừa ảnh hưởng uy tín đơn vị. Khi thông tin này đến khách hàng thì khả năng mất đơn hàng của doanh nghiệp là khá cao.
“Đoàn viên, người lao động sẽ có sự so sánh với công ty, đơn vị khác có sự chăm lo tốt và có thể họ sẽ thay đổi chỗ làm việc vì sự thiệt thòi là quá rõ. Đồng thời, nên công khai đơn vị không đóng kinh phí lên các kênh chính thống để xã hội cùng biết”, ông Hồng phân tích và kiến nghị.
Còn theo bộ phận tài chính LĐLĐ TPHCM, để tăng cường thu kinh phí công đoàn, trong thời gian tới, các cấp công đoàn cần phải tăng cường công tác tuyên truyền pháp luật đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp để doanh nghiệp nhận thức được tầm quan trọng của việc chấp hành pháp luật về đóng kinh phí công đoàn.
Điều 6, Nghị định 105/2026/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 16.5.2026) quy định về chậm đóng, không đóng kinh phí công đoàn như sau:
1. Chậm đóng kinh phí công đoàn là hành vi của đối tượng đóng kinh phí công đoàn chưa đóng hoặc đóng chưa đầy đủ số tiền phải đóng theo mức đóng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 29 Luật Công đoàn kể từ sau thời hạn đóng kinh phí công đoàn quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định này.
2. Không đóng kinh phí công đoàn là hành vi của đối tượng đóng kinh phí công đoàn thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Không trích, đóng kinh phí công đoàn.
b) Không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền phải đóng theo mức đóng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 29 Luật Công đoàn trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 4 của Nghị định này.
c) Không đóng hoặc đóng không đầy đủ số người thuộc đối tượng phải đóng trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 4 của Nghị định này.
3. Trường hợp tạm dừng đóng kinh phí công đoàn, giảm mức đóng kinh phí công đoàn không thuộc trường hợp chậm đóng, không đóng kinh phí công đoàn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.

