• :
  • :
Chi tiết tin tức
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Công nghiệp môi trường đón cơ hội từ kinh tế tuần hoàn nước

Công nghiệp môi trường còn nhiều dư địa phát triển khi nước thải không chỉ được xử lý mà còn trở thành nguồn nước, năng lượng, vật chất có thể tái sử dụng, thu hồi.

Thay đổi cách nhìn nhận về công nghiệp môi trường

Theo các chuyên gia, trong nhiều năm, khi nói đến công nghiệp môi trường trong lĩnh vực nước, cách tiếp cận phổ biến thường tập trung vào xây dựng các nhà máy xử lý nước thải. Tuy nhiên, trước sức ép của đô thị hóa, công nghiệp hóa, biến đổi khí hậu và suy giảm chất lượng nguồn nước, cách nhìn này đang bộc lộ những giới hạn. Nước sạch, nước thải, bùn thải hay các dòng chất lỏng đặc thù không còn là những phân khúc tách rời, mà ngày càng trở thành những mắt xích của một chuỗi công nghiệp hoàn chỉnh, từ sản xuất nước sạch, thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt và công nghiệp đến quản lý bùn, tái sử dụng nước và thu hồi tài nguyên.

TS Trịnh Xuân Đức - Phó Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp môi trường Việt Nam.

TS Trịnh Xuân Đức - Phó Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp môi trường Việt Nam.

Chia sẻ với Báo Công Thương, TS. Trịnh Xuân Đức - Phó Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp môi trường Việt Nam cho rằng, công nghiệp môi trường cần được nhìn nhận như một hệ sinh thái kinh tế - kỹ thuật, bao gồm nghiên cứu, chế tạo vật tư, thiết bị, công nghệ; thiết kế, xây dựng; vận hành, bảo trì; quan trắc, kiểm nghiệm, chứng nhận; tái sử dụng nước, thu hồi vật chất - năng lượng cùng các dịch vụ tài chính, dữ liệu và đào tạo hỗ trợ.

Hiện hơn 250 doanh nghiệp cấp nước đô thị đang quản lý trên 1.000 nhà máy nước với tổng công suất khoảng 13,2 triệu m³/ngày; khoảng 94% dân số đô thị được cung cấp nước sạch, tỷ lệ thất thoát, thất thu bình quân khoảng 15,5%. Trong khi đó, đến cuối năm 2024, cả nước mới có 83 nhà máy xử lý nước thải đô thị hoạt động tại hơn 50 đô thị, tổng công suất thiết kế 2,064 triệu m³/ngày nhưng lưu lượng vận hành thực tế chỉ khoảng 1,063 triệu m³/ngày; tỷ lệ nước thải đô thị được thu gom, xử lý bình quân mới đạt khoảng 18%.

Nếu so lưu lượng vận hành thực tế với công suất thiết kế, các nhà máy xử lý nước thải mới khai thác khoảng 51,5% năng lực. Con số này cho thấy điểm nghẽn của ngành nước thải Việt Nam không chỉ nằm ở việc thiếu nhà máy, mà còn ở sự thiếu đồng bộ của toàn hệ thống thu gom và xử lý. Hạ tầng dẫn nước thải về nhà máy, gồm cống cấp 2, cấp 3, đấu nối hộ gia đình và trạm bơm, chưa được đầu tư tương xứng, trong khi cơ chế thu phí, quản lý bùn thải và năng lực vận hành cũng chưa theo kịp yêu cầu”, TS Trịnh Xuân Đức chia sẻ.

Theo TS Trịnh Xuân Đức, đến năm 2025, 94,1% khu công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung, nhưng tỷ lệ cụm công nghiệp có công trình xử lý đáp ứng yêu cầu mới đạt 31,5% và làng nghề chỉ 16,6%. Điều đó phản ánh một thực tế nơi nguồn thải tập trung, quy mô lớn và có mô hình quản trị rõ ràng thì hạ tầng xử lý phát triển tương đối nhanh, ngược lại, những nguồn thải nhỏ, phân tán, thành phần biến động lại đang trở thành khoảng trống lớn.

100% nước thải tại Khu công nghiệp Wha (Nghệ An) được xử lý và tái sử dụng.

100% nước thải tại Khu công nghiệp Wha (Nghệ An) được xử lý và tái sử dụng.

Từ phân tích trên,TS Trịnh Xuân Đức cho rằng nếu nhìn dưới góc độ công nghiệp, đây lại là một thị trường giàu tiềm năng cho doanh nghiệp Việt Nam, trải rộng từ trạm xử lý module, thiết bị quan trắc, bơm và máy thổi khí hiệu suất cao, màng lọc, cảm biến, hệ thống điều khiển đến dịch vụ vận hành từ xa, xử lý bùn, phát hiện rò rỉ và công nghệ tái sử dụng nước.

Từ “xây nhà máy xử lý” sang phát triển một ngành công nghiệp

Chương trình phát triển ngành công nghiệp môi trường Việt Nam giai đoạn 2025-2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định 1894/QDD-TTg ngày 4/9/2025 đã xác lập mục tiêu đưa công nghiệp môi trường trở thành ngành kinh tế có tính độc lập; riêng công nghệ, thiết bị và sản phẩm xử lý nước thải được định hướng đáp ứng khoảng 70-80% nhu cầu trong nước và có khả năng xuất khẩu, còn thiết bị quan trắc môi trường đáp ứng khoảng 20% nhu cầu trong nước. Theo TS Trịnh Xuân Đức, vấn đề nghiên cứu đặt ra là Việt Nam cần ưu tiên đầu tư vào những cấu phần nào để mục tiêu này chuyển thành năng lực công nghiệp thực chất, đồng thời nâng được tỷ lệ thu gom - xử lý, tái sử dụng nước và hiệu quả tài nguyên?

TS. Trịnh Xuân Đức đề xuất, Việt Nam không nên tiếp tục tập trung chủ yếu vào các công trình xử lý “cuối đường ống”, mà cần đồng thời hình thành năng lực sản xuất, kiểm chứng công nghệ, vận hành, thị trường đầu ra và cơ chế tài chính cho toàn ngành. Để đạt mục tiêu đáp ứng 70-80% nhu cầu trong nước về công nghệ, thiết bị và sản phẩm xử lý nước thải, doanh nghiệp phải từng bước làm chủ thiết kế, vật liệu, phần mềm, chuỗi cung ứng, dịch vụ bảo hành và quyền sở hữu trí tuệ.

Hệ thống xử lý nước thải tại Công ty Cổ phần Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao.

Hệ thống xử lý nước thải tại Công ty Cổ phần Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao.

Theo đó, cần ưu tiên nghiên cứu, sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng cao như màng và module màng, vật liệu hấp phụ, trao đổi ion, bơm, máy thổi khí, thiết bị ép bùn hiệu suất cao, cảm biến, máy phân tích trực tuyến, bộ điều khiển và thiết bị khử trùng. Đồng thời, cần hình thành chuỗi phát triển công nghệ hoàn chỉnh, từ nghiên cứu, chế tạo mẫu thử, thử nghiệm pilot đến xây dựng công trình trình diễn, chứng nhận sản phẩm và tạo cơ chế cho hoạt động mua sắm lần đầu.

Đây là điểm cần lưu ý trong quá trình triển khai Chương trình phát triển ngành công nghiệp môi trường, nếu thị trường trong nước không tạo cơ hội cho công nghệ Việt Nam có “công trình tham chiếu”, rất khó yêu cầu doanh nghiệp tiến tới xuất khẩu. Ngược lại, mua sắm công nếu chuyển dần từ tiêu chí giá đầu tư ban đầu sang tổng chi phí vòng đời, hiệu suất năng lượng, độ tin cậy, khả năng sửa chữa và giá trị gia tăng trong nước có thể trở thành một công cụ quan trọng để tạo thị trường cho doanh nghiệp công nghệ môi trường.

Biến nước thải thành nguồn lực

Từ những điểm nghẽn hiện nay, TS. Trịnh Xuân Đức đề xuất năm trụ cột đầu tư đến năm 2030 gồm: (i) thể chế, dữ liệu, tiêu chuẩn và hạ tầng chất lượng; (ii) hạ tầng đồng bộ và dịch vụ vận hành toàn chuỗi; (iii) công nghệ lõi, thiết bị - vật liệu và chuyển đổi số; (iv) tuần hoàn nước, thu hồi tài nguyên và khử carbon; (v) thị trường, tài chính, doanh nghiệp, nhân lực và xuất khẩu.

Theo phân tích của TS Trịnh Xuân Đức, trước hết cần củng cố trụ cột thứ nhất về thể chế, dữ liệu, tiêu chuẩn và hạ tầng chất lượng để khắc phục tình trạng thị trường chưa được đo lường đầy đủ. Hiện Việt Nam vẫn thiếu hệ thống dữ liệu thống nhất về quy mô thị trường, doanh thu, kim ngạch thương mại và tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước của từng nhóm thiết bị, công nghệ. Khi thiếu dữ liệu, rất khó xác định mức độ nội địa hóa, nhận diện công nghệ cần ưu tiên hỗ trợ, phân khúc có khả năng cạnh tranh cũng như lĩnh vực mà vốn nhà nước cần phát huy vai trò “vốn mồi”.

100% nước thải sau xử lý của Công ty CP Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao được tái sử dụng cho các hoạt động sản xuất, vệ sinh môi trường, tưới cây xanh.

100% nước thải sau xử lý của Công ty CP Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao được tái sử dụng cho các hoạt động sản xuất, vệ sinh môi trường, tưới cây xanh.

Trụ cột thứ hai đặt trọng tâm vào hạ tầng và vận hành toàn chuỗi, thay vì chạy theo số lượng nhà máy mới, đầu tư phải hướng tới tối đa hóa lượng nước thải thực sự được thu gom và xử lý. Như vậy, nguồn vốn phải được phân bổ cho mạng lưới, đấu nối, trạm bơm, quản lý bùn, quan trắc và vận hành, đồng thời phát triển các hệ thống phi tập trung, trạm module cho cụm công nghiệp, làng nghề, cơ sở y tế, chăn nuôi và khu vực nông thôn.

Trụ cột thứ ba là làm chủ công nghệ lõi và chuyển đổi số, qua đó tạo ra năng lực sản xuất thực sự thay vì chỉ mở rộng thị trường tiêu thụ thiết bị nhập khẩu. SCADA, IoT, bản sao số, bảo trì dự báo hay điều khiển tối ưu theo tải không đơn thuần là câu chuyện số hóa nhà máy; chúng có thể tạo ra một phân khúc mới cho doanh nghiệp công nghệ Việt Nam.

Tiếp theo là trụ cột thứ tư về tuần hoàn nước, thu hồi tài nguyên và khử carbon. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nước thải có thể được tái định vị từ một “chi phí tuân thủ” thành nguồn tài nguyên có khả năng tạo ra nước tái sử dụng, năng lượng, chất dinh dưỡng và vật liệu. Tuy nhiên, hiệu quả thương mại của mô hình này phụ thuộc lớn vào chất lượng dòng thải đầu vào, quy mô xử lý, thị trường tiêu thụ sản phẩm thu hồi và năng lực quản trị rủi ro. Singapore là một điển hình khi phát triển NEWater trên nền tảng công nghệ xử lý đa hàng rào, kết hợp vi lọc/siêu lọc, thẩm thấu ngược và khử trùng bằng tia cực tím. Trong khi đó, ISO 20426:2018 nhấn mạnh yêu cầu đánh giá và quản lý rủi ro sức khỏe đối với các hệ thống tái sử dụng nước không dùng cho mục đích uống.

Từ kinh nghiệm này, Việt Nam có thể tập trung vào một số hướng đầu tư ưu tiên. Trước hết, thúc đẩy tái sử dụng nước theo nguyên tắc “phù hợp mục đích”, ưu tiên khu công nghiệp, khu đô thị mới, vùng thiếu nước và những cơ sở có nhu cầu ổn định cho làm mát, vệ sinh, tưới, xây dựng hoặc sản xuất; đồng thời áp dụng hệ thống nhiều hàng rào an toàn và kế hoạch quản lý rủi ro.

Cùng với đó, cần thúc đẩy phân loại, tách dòng tại nguồn để nâng cao khả năng thu hồi biogas, nhiệt, nitơ, phospho, dầu, kim loại, muối và nước. Muốn hình thành thị trường cho các tài nguyên thu hồi, cần đồng thời xây dựng tiêu chuẩn sản phẩm, cơ chế truy xuất nguồn gốc và hợp đồng bao tiêu, qua đó tạo đầu ra ổn định cho doanh nghiệp.

Một hướng quan trọng khác là kiểm soát hiệu quả sử dụng tài nguyên trong toàn bộ quá trình xử lý. Các chỉ số về điện năng, hóa chất và phát thải khí nhà kính trên mỗi m³ nước thải cần được đo lường, giám sát; từ đó ưu tiên công nghệ xử lý kỵ khí, thu hồi năng lượng, tối ưu sục khí, sử dụng năng lượng tái tạo tại chỗ và giảm phát sinh bùn.

Xa hơn, Việt Nam cần chuẩn bị lộ trình kiểm soát các chất ô nhiễm mới nổi như vi ô nhiễm, dược phẩm, vi nhựa và gen kháng kháng sinh theo cách tiếp cận dựa trên rủi ro. Chỉ thị (EU) 2024/3019 cho thấy xu hướng chính sách quốc tế đang chuyển mạnh sang gắn xử lý nước thải bậc cao với trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, hiệu quả năng lượng và mục tiêu trung hòa năng lượng, qua đó đưa ngành nước thải tiến gần hơn tới mô hình kinh tế tuần hoàn”, TS Trịnh Xuân Đức nhấn mạnh.

Cuối cùng, trụ cột thị trường, tài chính, doanh nghiệp, nhân lực và xuất khẩu. Theo TS Trịnh Xuân Đức, giá dịch vụ thấp, hợp đồng vận hành ngắn hạn và mua sắm chỉ nhìn vào giá ban đầu sẽ làm giảm động lực sử dụng thiết bị bền, tiết kiệm năng lượng và đầu tư đổi mới. Vì vậy cần mở rộng các mô hình PPP, BOO và DBO nhằm huy động nguồn lực tư nhân tham gia đầu tư, xây dựng và vận hành hạ tầng xử lý nước thải. Trong đó, PPP (đối tác công tư) giúp chia sẻ nguồn lực và rủi ro giữa Nhà nước và doanh nghiệp; BOO (xây dựng – sở hữu – vận hành) tạo điều kiện cho nhà đầu tư tham gia dài hạn; DBO (thiết kế – xây dựng – vận hành) gắn trách nhiệm thiết kế, thi công với hiệu quả vận hành công trình. Việc đa dạng hóa các mô hình đầu tư này có thể giảm áp lực lên ngân sách, đồng thời thúc đẩy ứng dụng công nghệ, nâng cao hiệu suất và chất lượng dịch vụ xử lý nước thải, hợp đồng thiết kế - xây dựng - vận hành, tín dụng xanh, bảo lãnh công nghệ, mua sắm theo chi phí vòng đời và phát triển đội ngũ nhân lực chuyên nghiệp cần trở thành những cấu phần của chính sách phát triển ngành.

TS Trịnh Xuân Xức cho rằng, năm trụ cột này không thể tách rời nhau. Một công nghệ tốt sẽ khó có thị trường nếu không có tiêu chuẩn và cơ chế kiểm chứng; xây thêm nhà máy không giải quyết được ô nhiễm nếu thiếu mạng lưới thu gom; nước tái sử dụng không thể trở thành hàng hóa nếu chưa xác định người mua và tiêu chuẩn chất lượng; còn doanh nghiệp khó đầu tư dài hạn nếu dòng tiền dịch vụ thiếu ổn định.

Hệ thống xử lý nước thải Công ty CP Nhựa Tái chế Duy Tân.

Hệ thống xử lý nước thải Công ty CP Nhựa Tái chế Duy Tân.

Vì thế, mục tiêu đến năm 2030 không nên nhìn qua câu hỏi Việt Nam có thêm bao nhiêu nhà máy xử lý nước thải. Điều quan trọng hơn là chúng ta hình thành được bao nhiêu doanh nghiệp đủ năng lực làm chủ công nghệ, bao nhiêu thiết bị có giá trị gia tăng cao được sản xuất trong nước, bao nhiêu m³ nước được tuần hoàn, bao nhiêu tài nguyên được thu hồi và bao nhiêu công nghệ Việt Nam đủ sức bước ra thị trường khu vực.

Theo TS Trịnh Xuân Đức, khi nước thải được nhìn nhận không chỉ là thứ cần loại bỏ mà còn là nguồn nước, năng lượng, vật chất và thị trường cho công nghệ mới, công nghiệp môi trường mới thực sự chuyển từ vị trí “đi sau xử lý hệ quả” sang một ngành kinh tế chủ động tạo giá trị. Đó cũng là điều kiện để mục tiêu đưa công nghiệp môi trường trở thành ngành kinh tế độc lập theo Chương trình giai đoạn 2025-2030 đi vào thực chất, đồng thời tạo thêm một động lực cho kinh tế tuần hoàn, tăng trưởng xanh và nâng cao năng lực tự chủ công nghệ của Việt Nam.

Thu Hường
Thích

Video