• :
  • :
Chi tiết tin tức
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Tín nhiệm BBB-: Mở thêm cánh cửa vốn cho các dự án năng lượng

Việc R&I lần đầu đưa Việt Nam vào nhóm xếp hạng “Đầu tư” mở thêm cơ hội tiếp cận vốn quốc tế cho các dự án năng lượng. Cánh cửa vốn đã rộng mở hơn, song cũng đặt ra nhiều thách thức.

Ngày 8/10/2026, Tổ chức xếp hạng tín nhiệm Rating and Investment Information, Inc. (R&I, Nhật Bản) nâng xếp hạng tín nhiệm nhà phát hành bằng ngoại tệ của Việt Nam từ BB+, triển vọng “Tích cực” lên BBB-, triển vọng “Ổn định”. Theo Bộ Tài chính, R&I đánh giá tích cực nền tảng tăng trưởng kinh tế, triển vọng cải cách cơ cấu, dư địa tài khóa và khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc bên ngoài.

Với ngành năng lượng, đây không chỉ là tin vui về uy tín quốc gia. Các dự án điện, dầu khí đều cần vốn lớn, vay dài hạn và phụ thuộc nhiều vào vốn ngoại tệ, nên mỗi thay đổi về tín nhiệm quốc gia đều tác động trực tiếp tới khả năng thu xếp vốn.

Nhu cầu vốn rất lớn

Theo Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 điều chỉnh (Quy hoạch điện VIII điều chỉnh), giai đoạn 2026-2030 cần khoảng 136,3 tỷ USD vốn đầu tư. Ở lĩnh vực dầu khí, vốn đầu tư cho thăm dò, khai thác của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) giai đoạn 2026-2030 dự kiến khoảng 14,23 tỷ USD, gấp khoảng 2,3 lần giai đoạn 2021-2025.

Ở khâu lọc hóa dầu, Dự án nâng cấp, mở rộng Nhà máy Lọc dầu Dung Quất của Công ty CP Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) có tổng mức đầu tư khoảng 1,489 tỷ USD, trong đó BSR cần thu xếp khoản vay tối đa 600 triệu USD.

Với điện khí LNG, Dự án Nhà máy điện Nhơn Trạch 3 và 4 (1.500 MW) của Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam (PV Power) có tổng mức đầu tư 1,4 tỷ USD. Trước đó vào tháng 10/2024, để có nguồn vốn triển khai dự án, PV Power đã ký hợp đồng tín dụng 521,5 triệu USD với hai ngân hàng nước ngoài là Citi và ING, được bảo hiểm bởi KSURE (Hàn Quốc) và SERV (Thụy Sĩ).

Dự án Nhà máy điện khí LNG Nhơn Trạch 3 và 4 - Ảnh: Petrovietnam

Dự án Nhà máy điện khí LNG Nhơn Trạch 3 và 4 - Ảnh: Petrovietnam

Ở khâu truyền tải, Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia (EVNNPT) dự kiến phải thu xếp vốn vay cho khoảng 220 dự án đến năm 2030, với tổng nhu cầu khoảng 204 nghìn tỷ đồng, tương đương 7,8 tỷ USD. Do giới hạn cấp tín dụng theo Luật Các tổ chức tín dụng thu hẹp dần, EVNNPT đã tìm đến vốn quốc tế: ký khoản vay 67 triệu EUR với Cơ quan Phát triển Pháp (AFD), đồng thời đang trình đề xuất vay Ngân hàng Đầu tư Cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) 461 triệu EUR và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) 390 triệu USD.

Nhìn nhận về vấn đề này, ông Marc Knapper, thành viên Hội đồng Cố vấn Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh (VIFC-HCMC) cho rằng, nguồn lực của các ngân hàng trong nước sẽ không đủ để đáp ứng tham vọng rất lớn của Việt Nam trong 2-3 thập kỷ tới là trở thành nền kinh tế thu nhập cao, công nghệ cao và xanh. Cùng với đó, ngành năng lượng không thể phát triển nếu không tiếp cận được nguồn vốn đáng kể.

Khi nguồn vốn tín dụng trong nước còn hạn hẹp, vốn quốc tế đã và sẽ là nguồn lực không thể thiếu. Đây chính là nơi xếp hạng tín nhiệm quốc gia phát huy tác dụng.

"Giá vốn nền" của doanh nghiệp

Thực tế cho thấy, doanh nghiệp năng lượng khó được xếp hạng cao hơn quốc gia của mình. Ngày 19/8/2026, Fitch Ratings duy trì xếp hạng BB+, triển vọng Ổn định cho BSR, tương đương xếp hạng của Petrovietnam và của Chính phủ Việt Nam. Đây là mức cao nhất BSR có thể đạt được theo giới hạn trần quốc gia, dù doanh nghiệp có nền tảng tài chính vững.

Ngành điện cũng tương tự. EVNNPT đã 8 năm liên tiếp được Fitch đánh giá xếp hạng tín nhiệm, hiện ở mức BB+, ngang bằng xếp hạng quốc gia và công ty mẹ là Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN).

Ông Phạm Phú Khôi, Tổng Thư ký Hiệp hội Thị trường Trái phiếu Việt Nam (VBMA) khẳng định: “Chỉ khi trần quốc gia được nâng lên, các doanh nghiệp mới có thể nâng hạng theo”. Cùng quan điểm, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế TP. Hồ Chí Minh ví xếp hạng tín nhiệm quốc gia gần như là “giá vốn nền” của cả nền kinh tế. Theo ông, khi được nâng hạng, nhà đầu tư quốc tế đánh giá rủi ro quốc gia thấp hơn, nhờ đó Chính phủ, ngân hàng và doanh nghiệp đều có thể vay vốn quốc tế với lãi suất thấp hơn.

Ông Brook Taylor, Tổng Giám đốc Công ty CP Quản lý Quỹ VinaCapital cho rằng hạng “Đầu tư” giúp lợi suất trái phiếu chính phủ giảm, chênh lệch tín dụng thu hẹp, qua đó hạ chi phí vốn cho toàn nền kinh tế, với mức giảm có thể tới 150 điểm cơ bản. Với các dự án vay hàng trăm triệu đến hàng tỷ USD, mỗi điểm phần trăm lãi suất ảnh hưởng trực tiếp tới giá thành điện và hiệu quả đầu tư.

Ông Brook Taylor cũng lưu ý, nhiều quỹ hưu trí, công ty bảo hiểm có nguyên tắc không rót vốn vào quốc gia dưới mức “Đầu tư”, trong khi Việt Nam đang cần đúng loại vốn ngoại tệ dài hạn này cho hạ tầng và năng lượng. Còn ông Phạm Phú Khôi ước tính thị trường trái phiếu có thể thu hút khoảng 10-20 tỷ USD vốn quốc tế nếu các điều kiện về tín nhiệm được cải thiện. Ngoài ra, R&I là tổ chức xếp hạng của Nhật Bản, quốc gia có hơn 79 tỷ USD vốn đầu tư đăng ký tại Việt Nam, nên kết quả này tạo thêm điểm tựa để tiếp cận thị trường vốn Nhật Bản, trong đó có trái phiếu Samurai.

Tại nhiều quốc gia trên thế giới, khi trần tín nhiệm quốc gia được nâng, doanh nghiệp năng lượng được nâng hạng theo khá nhanh. Ngày 17/11/2017, Moody’s nâng xếp hạng tín nhiệm của Ấn Độ từ Baa3, bậc thấp nhất của nhóm “Đầu tư”, lên Baa2, lần đầu sau 13 năm. Ngay trong ngày, tổ chức này nâng hạng hàng loạt doanh nghiệp nhà nước ngành năng lượng, từ doanh nghiệp phát điện lớn nhất Ấn Độ NTPC đến các tập đoàn dầu khí ONGC, IOC, BPCL. Khoảng bốn tháng sau, NTPC phát hành 400 triệu USD trái phiếu quốc tế với lãi suất 4,5%/năm.

Tại Indonesia, tháng 4/2018, Moody’s nâng hạng tín nhiệm quốc gia từ Baa3 lên Baa2, đồng thời nâng hạng Công ty Điện lực quốc gia PLN tương ứng. Tháng 7/2019, PLN phát hành 1,4 tỷ USD trái phiếu quốc tế, trong đó một nửa có kỳ hạn 30 năm với lãi suất 4,875%/năm, lượng đặt mua gấp hơn 4,4 lần, chủ yếu từ quỹ hưu trí, công ty bảo hiểm. Dù mức lãi suất khi đó còn chịu tác động của mặt bằng lãi suất toàn cầu, việc huy động được vốn kỳ hạn 30 năm cho thấy rõ giá trị của nền tảng tín nhiệm quốc gia.

Cánh cửa rộng mở

Hiện mức BBB- của R&I chưa đủ để chi phí vốn của các dự án năng lượng giảm ngay, bởi theo đánh giá vẫn còn đó những ‘rào cản’. Theo đó, phần lớn nhà đầu tư toàn cầu vẫn căn cứ vào S&P, Fitch và Moody’s, nơi Việt Nam chưa đạt hạng “Đầu tư”. Đánh giá của nhiều chuyên gia còn cho thấy, một trong những rào cản khác nằm trong chính ngành năng lượng. Tín nhiệm quốc gia chỉ giảm rủi ro ở cấp quốc gia, còn ngân hàng vẫn thẩm định từng dự án. Với các dự án hạ tầng chưa có dòng tiền, ông Phạm Phú Khôi cho rằng yếu tố quyết định là bảo lãnh thanh toán: “Phải có sự bảo lãnh từ Chính phủ hoặc các ngân hàng thương mại lớn (nhóm Big 4)”. Ông cũng lưu ý, thiếu công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá, nhà đầu tư nước ngoài chỉ mua giấy tờ có giá kỳ hạn 6-9 tháng, trong khi dự án năng lượng cần vốn hàng chục năm.

Bên cạnh đó, chính R&I cũng lưu ý về tăng trưởng tín dụng, thanh khoản ngân hàng và quy mô dự trữ ngoại hối. PGS.TS Nguyễn Hữu Huân cảnh báo, các tổ chức xếp hạng rất nhạy cảm với thâm hụt ngân sách và chi tiêu công tăng nhanh. Đầu tư hạ tầng năng lượng vì vậy phải đi kèm hiệu quả, nếu không chính nó sẽ trở thành điểm trừ khi xét hạng.

Những dự án năng lượng sẽ có cơ hội tiếp cận nguồn vốn khi mức xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam đã được nâng lên - Ảnh: Dự án đường dây 550KV/EVN cung cấp

Những dự án năng lượng sẽ có cơ hội tiếp cận nguồn vốn khi mức xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam đã được nâng lên - Ảnh: Dự án đường dây 550KV/EVN cung cấp

Về chính sách, ông Brook Taylor nêu ba ưu tiên: củng cố hàng rào an toàn tài chính, nâng tính dự báo của chính sách và khuôn khổ pháp lý, cải thiện minh bạch dữ liệu. Ở góc độ thị trường vốn, ông Tạ Thanh Hòa, Giám đốc Khối Thị trường Tài chính, Ngân hàng Standard Chartered Việt Nam cho rằng: “Việc Chính phủ phát hành một trái phiếu chuẩn sẽ tạo ra sự khác biệt rất lớn”, bởi đây sẽ là mốc tham chiếu để doanh nghiệp định giá khi huy động vốn quốc tế.

Đáng chú ý, ngày 2/10/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1919/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung Đề án cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia tới năm 2030, đặt mục tiêu đạt mức Baa3 theo Moody’s hoặc BBB- theo S&P và Fitch trở lên. Quyết định bổ sung giải pháp bảo đảm an ninh năng lượng và từng bước lồng ghép yếu tố môi trường, xã hội và quản trị (ESG) vào quản trị quốc gia. Tín nhiệm tốt giúp ngành năng lượng dễ vay vốn hơn, còn hệ thống năng lượng an toàn, đủ và xanh hơn lại là điểm cộng để Việt Nam giữ và nâng hạng.

Về phía doanh nghiệp, các đơn vị năng lượng đang chủ động xếp hạng tín nhiệm và minh bạch báo cáo tài chính theo chuẩn quốc tế, bởi trần quốc gia được nâng chỉ có ý nghĩa khi doanh nghiệp có hạng để nâng theo. Cùng với đó là chuẩn bị hồ sơ dự án sớm, đáp ứng tiêu chuẩn môi trường và xã hội của nhà tài trợ, đa dạng hóa cấu trúc vốn và tính toán kỹ rủi ro tỷ giá, như cách BSR đang cân nhắc cả khoản vay có bảo hiểm của Cơ quan Bảo lãnh đầu tư đa phương (MIGA), có bảo lãnh của tổ chức tín dụng xuất khẩu (ECA) lẫn vay thương mại quốc tế.

Việc R&I đưa Việt Nam vào nhóm “Đầu tư” mới là bước khởi đầu, song là tín hiệu quan trọng với ngành năng lượng, nơi nhu cầu vốn lên tới hàng trăm tỷ USD. Chỉ khi S&P, Fitch và Moody’s cùng ghi nhận, những doanh nghiệp như BSR, EVNNPT hay PV Power mới có dư địa để được nâng hạng theo, vay vốn với chi phí thấp và kỳ hạn dài hơn. Khi đó, mức tín nhiệm cao hơn sẽ trở thành dòng vốn thực cho bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Thụy Anh