• :
  • :
Trang thông tin điện tử tổng hợp
Chi tiết tin tức
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

RCEP mở rộng dư địa xuất khẩu hàng Việt sang ASEAN

RCEP tạo thêm thuận lợi về thuế quan, quy tắc xuất xứ và kết nối thị trường, mở ra cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu sang ASEAN.

Dư địa thị trường còn lớn

Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) tạo khuôn khổ hợp tác thương mại giữa 15 nền kinh tế, chiếm khoảng 30% GDP toàn cầu. Hiệp định hướng tới cắt giảm khoảng 90% thuế nhập khẩu giữa các thành viên, đồng thời thúc đẩy kết nối chuỗi cung ứng và lưu chuyển hàng hóa trong khu vực.

Đối với Việt Nam, bên cạnh cơ hội tiếp cận thị trường Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và New Zealand, RCEP còn tạo điều kiện khai thác thị trường ASEAN, nơi có vị trí địa lý gần, giao thương sôi động và nhu cầu nhập khẩu đa dạng.

RCEP tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp Việt khai thác sâu thị trường ASEAN.

RCEP tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp Việt khai thác sâu thị trường ASEAN.

Tại Hội thảo “Tư vấn quản lý rủi ro trong xúc tiến thương mại và kinh doanh xuất khẩu với các thị trường ASEAN” do Cục Xúc tiến thương mại tổ chức gần đây, ông Phùng Văn Thành, Thương vụ Việt Nam tại Malaysia, cho biết, thị trường này hằng năm nhập khẩu trên 300 tỷ USD hàng hóa, trong khi kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Malaysia mới đạt khoảng 6 tỷ USD.

Indonesia cũng là thị trường có triển vọng. Năm 2025, kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam - Indonesia đạt 17,25 tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay, trong đó xuất khẩu của Việt Nam đạt hơn 6,1 tỷ USD. Trong 9 tháng năm 2026, kim ngạch thương mại song phương đạt hơn 14,6 tỷ USD, dự kiến cả năm có thể đạt 18 tỷ USD.

Với dân số lớn thứ tư thế giới, khoảng 60% dân số trong độ tuổi lao động và tầng lớp trung lưu khoảng 50 triệu người, Indonesia có nhu cầu tiêu dùng đáng kể. Đây là cơ hội để hàng Việt Nam mở rộng thị phần, nhất là các sản phẩm có lợi thế về giá cả, chất lượng và khả năng cung ứng.

Myanmar cũng là thị trường đáng chú ý. Theo ông Ngô Xuân Tỵ, Tham tán thương mại, Trưởng Thương vụ Việt Nam tại Myanmar, nước này có hơn 55 triệu dân và nhu cầu đối với nhiều nhóm hàng, từ hàng tiêu dùng, vật liệu xây dựng, máy móc công nghiệp, thiết bị nông nghiệp đến trang thiết bị y tế, điện tử, may mặc và logistics.

Nguồn cung hàng hóa tại Myanmar còn thiếu hụt, tạo cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam có khả năng cung ứng sản phẩm với giá cạnh tranh và đáp ứng yêu cầu chất lượng.

Chủ động nhận diện, tránh rủi ro

Dù cơ hội mở rộng xuất khẩu còn lớn, đại diện các thương vụ Việt Nam tại ASEAN lưu ý mỗi thị trường có đặc điểm tiêu dùng, hệ thống phân phối, yêu cầu pháp lý và tập quán kinh doanh riêng. Doanh nghiệp cần xây dựng phương án tiếp cận phù hợp với từng thị trường.

Ông Ngô Xuân Tỵ, Tham tán thương mại, Trưởng Thương vụ Việt Nam tại Myanmar.

Ông Ngô Xuân Tỵ, Tham tán thương mại, Trưởng Thương vụ Việt Nam tại Myanmar.

Tại Malaysia, sự đa dạng về sắc tộc, tôn giáo và tập quán tiêu dùng đòi hỏi doanh nghiệp xác định rõ nhóm khách hàng mục tiêu. Chứng nhận Halal có ý nghĩa đối với nhiều sản phẩm, không chỉ thực phẩm, đồ uống mà còn cả mỹ phẩm và các mặt hàng liên quan. Theo thông tin từ Thương vụ Việt Nam tại Malaysia, tính đến tháng 8/2026, Việt Nam có 5 cơ sở được cơ quan quản lý Halal của Malaysia công nhận chứng nhận tương thích với yêu cầu của thị trường này.

Tại Indonesia, doanh nghiệp cần lưu ý yêu cầu về tỷ lệ nội địa hóa trong một số lĩnh vực, Tiêu chuẩn quốc gia Indonesia (SNI), chứng nhận Halal và đăng ký lưu hành sản phẩm. Hàng hóa thuộc diện bắt buộc nhưng không đáp ứng tiêu chuẩn có thể gặp trở ngại khi nhập khẩu, phân phối hoặc tham gia các gói thầu.

Bảo vệ nhãn hiệu cũng là vấn đề cần được quan tâm. Việc chậm đăng ký quyền sở hữu trí tuệ có thể dẫn đến tranh chấp hoặc phát sinh chi phí để lấy lại quyền đối với thương hiệu. Doanh nghiệp nên đăng ký nhãn hiệu, rà soát giấy phép và xác định yêu cầu pháp lý ngay từ giai đoạn chuẩn bị thâm nhập thị trường.

Trong giao dịch xuất khẩu, việc xác minh đối tác là khâu quan trọng. Theo ông Phùng Văn Thành, kinh nghiệm từ hoạt động tại Philippines và Malaysia cho thấy doanh nghiệp cần kiểm tra địa chỉ, tư cách pháp lý và năng lực thực tế của đối tác trước khi ký hợp đồng.

Có trường hợp doanh nghiệp Việt Nam ký hợp đồng với đối tác ở Singapore hoặc Thái Lan, nhưng hàng hóa được giao cho bên thứ ba tại Philippines. Khi hàng đã được dỡ xuống cảng mà tiền thanh toán chưa được thực hiện, việc giải quyết tranh chấp trở nên phức tạp do bên ký hợp đồng và bên nhận hàng không cùng một chủ thể.

Vì vậy, doanh nghiệp cần xác định rõ bên mua, bên thanh toán, bên nhận hàng, địa điểm giao hàng và trách nhiệm của từng bên. Điều khoản thanh toán, đặt cọc và xử lý tranh chấp cần được rà soát kỹ, thay vì chỉ dựa vào cam kết của đối tác.

Với Myanmar, ông Ngô Xuân Tỵ lưu ý, doanh nghiệp cần thận trọng trong lựa chọn đối tác, kiểm soát ngoại tệ, thủ tục nhập khẩu, vận chuyển và giao nhận. Việc nghiên cứu đặc điểm từng mặt hàng, tìm hiểu quy định sở tại và tham vấn thương vụ khi cần thiết sẽ giúp hạn chế rủi ro.

“Nếu doanh nghiệp chuẩn bị kỹ, chủ động tìm hiểu và có phương án xử lý phù hợp đối với từng vấn đề thì có thể hạn chế rủi ro. Ngược lại, nếu không chuẩn bị đầy đủ, rủi ro có thể phát sinh ngay trong quá trình triển khai hoạt động kinh doanh”, ông Tỵ nhấn mạnh.

Bên cạnh yêu cầu pháp lý và giao dịch, doanh nghiệp cũng cần tìm hiểu văn hóa kinh doanh tại từng thị trường. Đại diện các thương vụ Việt Nam tại Myanmar, Indonesia và Malaysia khuyến nghị, doanh nghiệp kiên nhẫn trong đàm phán, tôn trọng cách giao tiếp của đối tác và xác nhận rõ thỏa thuận bằng văn bản. Sự thân thiện trong trao đổi không đồng nghĩa với việc đối tác đã chấp thuận giao dịch.

RCEP tạo khuôn khổ thuận lợi để doanh nghiệp Việt Nam kết nối nguồn nguyên liệu, tổ chức sản xuất và mở rộng xuất khẩu sang ASEAN. Để tận dụng cơ hội, doanh nghiệp cần gắn ưu đãi thương mại với chiến lược thị trường dài hạn, chủ động tìm kiếm đối tác, đa dạng hóa kênh phân phối và nâng cao năng lực quản trị rủi ro.

Hải Linh