• :
  • :
Chi tiết tin tức
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Lãi suất đầu tháng 10/2026: Tiết kiệm giữ nhịp ổn định, chứng chỉ tiền gửi hút khách

Biểu lãi suất tại các ngân hàng trong ngày đầu tháng 10/2026 cho thấy, mặt bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm ít biến động, trong khi lãi suất chứng chỉ tiền gửi được duy trì ở mức cao, có sản phẩm lên tới 7,5%/năm. Diễn biến này cho thấy áp lực cân đối nguồn vốn, nhất là vốn trung và dài hạn, vẫn hiện hữu trong những tháng cuối năm.

lai-suat.jpg

Tham khảo nhanh biểu lãi suất tiền gửi tiết kiệm tại quầy (lãi suất huy động) niêm yết trên website của các ngân hàng như: Agribank, Vietcombank, BIDV, VietinBank, VPBank, Techcombank, MB, ACB, SACOMBANK, HDBank, SHB, VIB, SeABank, BacABank, TPBank, NCB, KienlongBank, Saigonbank, Vietbank,… trong ngày đầu tiên tháng 10/2026 cho thấy, lãi suất huy động (tại các kỳ hạn được khảo sát là: 6,9,12,24 tháng) tại các ngân hàng nhìn chung ít biến động so với tháng 9/2026.

Tại nhóm ngân hàng thương mại có vốn nhà nước, lãi suất tiền gửi tiết kiệm tại quầy đầu tháng 10 gần như không thay đổi so với tháng 9. Vietcombank, BIDV và VietinBank cùng niêm yết lãi suất kỳ hạn 6 và 9 tháng ở mức 3,5%/năm, kỳ hạn 12 tháng ở mức 5,9%/năm và kỳ hạn 24 tháng ở mức 6,0%/năm.

Trong khi đó, ở nhóm ngân hàng thương mại cổ phần, biểu lãi suất có sự điều chỉnh linh hoạt hơn nhưng xu hướng chung vẫn là ổn định. Chẳng hạn, SeABank niêm yết 5%/năm tại kỳ hạn 12 tháng; GPBank 5,55%; KienlongBank 5,5%; Eximbank và HDBank cùng ở mức 5,3%. PVcomBank áp dụng 5,6%/năm tại kỳ hạn 12 tháng. Trong khi đó, SCB tiếp tục có mức lãi suất thấp nhất bảng, ở 3,7%/năm tại kỳ hạn 12 tháng và 3,9%/năm tại 18 tháng.

Mặt bằng niêm yết tại nhiều ngân hàng ngày đầu tháng 10/2026 cũng cho thấy sự chênh lệch rõ nét. Xét riêng kỳ hạn 12 tháng, lãi suất huy động tại 35 ngân hàng trải từ 3,7% đến 7,8%/năm, chênh lệch giữa mức lãi suất cao nhất và thấp nhất tại kỳ hạn 12 tháng lên tới 4,1%/năm.

Đáng chú ý, bên cạnh tiền gửi tiết kiệm truyền thống, các ngân hàng đang tăng cường sử dụng chứng chỉ tiền gửi như một kênh bổ sung nguồn vốn.

Theo số liệu cập nhật ngày đầu tháng 10/2026, lãi suất chứng chỉ tiền gửi cao nhất tại nhóm Big4 lên tới 7,5%/năm. Vietcombank hiện niêm yết chứng chỉ tiền gửi với duy nhất kỳ hạn 6 tháng ở mức 7,5%/năm, trong khi BIDV áp dụng mức 7,2%/năm cho các kỳ hạn 6-11 tháng và 13-60 tháng, riêng kỳ hạn 12 tháng là 7,4%/năm. VietinBank cũng niêm yết 7,2%/năm cho kỳ hạn 6-9 tháng và 7,4%/năm cho kỳ hạn 12-36 tháng.

Như vậy, ngay trong nhóm ngân hàng thương mại nhà nước, khoảng cách giữa lãi suất tiết kiệm thông thường và chứng chỉ tiền gửi đã khá rõ. Với Vietcombank, mức 7,5%/năm của chứng chỉ tiền gửi kỳ hạn 6 tháng cao hơn đáng kể so với lãi suất tiền gửi tiết kiệm cùng kỳ hạn đang niêm yết 6,6%/năm.

Chứng chỉ tiền gửi nhìn chung được trả lãi suất cao hơn khoảng 1-3 điểm phần trăm so với tiền gửi thông thường, tùy sản phẩm và điều kiện áp dụng. Tại một số ngân hàng thương mại cổ phần, mức lãi suất chứng chỉ tiền gửi được ghi nhận có thể lên tới 9%/năm. Diễn biến này phản ánh một nhu cầu khá rõ của các ngân hàng: tìm kiếm nguồn vốn ổn định, đặc biệt cho các nhu cầu tín dụng trung và dài hạn.

Theo các chuyên gia, việc các ngân hàng đồng thời đẩy mạnh phát hành chứng chỉ tiền gửi cho thấy nhu cầu bổ sung nguồn vốn trung, dài hạn ngày càng cấp thiết. Trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng được duy trì ở mức cao, các công cụ huy động vốn ngoài tiền gửi truyền thống sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng.

Sự khác biệt giữa diễn biến của tiền gửi tiết kiệm và chứng chỉ tiền gửi cho thấy câu chuyện lãi suất những tháng cuối năm không đơn thuần là xu hướng tăng hay giảm đồng loạt. Đầu tháng 9, lãi suất tiền gửi tiết kiệm tại nhiều ngân hàng đã được điều chỉnh giảm hoặc giữ ổn định, trong khi hệ thống ngân hàng đồng thời triển khai nhiều chương trình tín dụng ưu đãi nhằm giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp.

Sau hơn một tháng triển khai chương trình tín dụng ưu đãi theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước, số ngân hàng tham gia các chương trình tín dụng ưu đãi dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa đã tăng từ 4 lên 19 ngân hàng, với tổng quy mô các chương trình, sản phẩm tín dụng trên 407.000 tỷ đồng so với 220.000 tỷ đồng đăng ký ban đầu. Các khoản vay được áp dụng mức lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn; một số chương trình thấp hơn 1-2%/năm.

Điều này đặt các ngân hàng trước bài toán cân đối giữa hai mục tiêu: duy trì nguồn vốn đủ lớn để đáp ứng nhu cầu tín dụng và kiểm soát chi phí huy động để có dư địa giảm lãi suất cho vay. Trong khi đó, nhu cầu vốn của nền kinh tế vẫn được đánh giá ở mức cao trong những tháng cuối năm. Vì vậy, dù lãi suất tiết kiệm tại một số kỳ hạn đã giảm, áp lực huy động chưa thể hoàn toàn giảm theo.

Việc chứng chỉ tiền gửi được sử dụng ngày càng nhiều với mức lãi suất cao hơn tiền gửi thông thường là một biểu hiện của áp lực này. Khác với việc chỉ điều chỉnh biểu lãi suất tiết kiệm, ngân hàng có thêm một công cụ để thu hút nguồn tiền với kỳ hạn và mức lãi suất được thiết kế phù hợp với nhu cầu cân đối nguồn vốn.

Tuy nhiên, lãi suất huy động cao hơn cũng đồng nghĩa chi phí đầu vào của ngân hàng tăng lên. Khi đó, khả năng giảm lãi suất cho vay trên diện rộng sẽ phụ thuộc không chỉ vào chủ trương giảm lãi suất mà còn vào khả năng tiết giảm các chi phí khác và cải thiện hiệu quả hoạt động.

Đây cũng là lý do các chuyên gia cho rằng dư địa giảm lãi suất từ nay đến cuối năm cần được nhìn nhận thận trọng. Mặt bằng lãi suất từ nay đến cuối năm được nhận định khó giảm đáng kể do nhu cầu vốn của nền kinh tế vẫn cao, trong khi tăng trưởng tiền gửi chưa theo kịp.

THỐNG KÊ LÃI SUẤT TIẾT KIỆM THÁNG 10/2026 TẠI MỘT SỐ NGÂN HÀNG:

chart visualization